Xu Hướng 2/2024 # Câu Hỏi “Có Cần Giải Phóng Miền Nam Hay Không” Và Một Ngàn Cái Like Ngốc Nghếch # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Câu Hỏi “Có Cần Giải Phóng Miền Nam Hay Không” Và Một Ngàn Cái Like Ngốc Nghếch được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hôm nay,một ngày chủ nhật êm ả trên đất nước thân yêu của chúng ta .Ngày cuối tuần dân Việt Nam chúng ta sum họp bên gia đình hoặc cùng bạn bè ăn nhậu phà ca xả stress để chuẩn bị cho 6 ngày làm việc. Facebook và Blog của các nhà rân chủ cũng im ắng lạ thường, có lẽ các ‘ nhà “ vẫn còn “ quá choáng váng vì số phận “ sau cú sập bẫy tuyệt thực của Cù lão phu nhân nên tạm thời gió bão biến đâu mất .

 Trong cái lặng lẽ ê chề của của nhà rân chủ bỗng nhiên nổi lên một nhà sử học mới toanh có cái tên thật đẹp: Nguyễn Thùy Linh. Chẳng biết cô nàng ngâm cú lịch sử Việt Nam được bao lâu , trình độ lùn hay dài cỡ nào nhưng công trình của nàng vừa khui chai bật nắp đã nhận ngay 1.145 cái like hớn hở . Công trình của nàng là câu hỏi “ có cần giải phóng Miền Nam hay không ?’ ,vai trò của Đảng Cộng Sản và chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử cận đại. Công trình tóm gọn chưa tới 2 trang giấy A4, quy mô và tính học thuật ngang ngửa một buổi chém gió của các bác ghiền thuốc lào, ấy thế mà có hơn 1 ngàn người gật gù tán thưởng mới là điều kỳ cục .đến độ buồn cười 

Nhà sử học phán “Xét về mặt sinh học thì Thùy Linh là do ba mẹ sinh ra, ba của Thùy Linh là do ông bà nội sinh ra, còn mẹ của Thùy Linh là do ông bà ngoại sinh ra…Không thấy Bác và Đảng xuất hiện trong chuỗi quá trình đó.” Để chứng minh rằng nàng chả bà con gì với lịch sử .Cái con người bằng xương bằng thịt cộng với phụ kiện làm đẹp của nàng không hề là hệ quả của lịch sử . Có lẽ nàng sống ở một hành tinh khác, thở trong bầu khí quyển khác nên nàng không hiểu tại sao dân Việt Nam phải cúng bái Quốc tổ Hùng Vương, cứ phải tưởng nhớ các vị Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lý thường Kiệt…. Theo nàng , một người Pháp chả việc gì phai oánh giá công lao ông De Gaul, một anh Mỹ cũng chả rỗi hơi mà biết Washington là ai vì cái sự kiện trứng và tinh trùng gặp nhau tạo ra họ chả can hệ gì với mấy anh hung giả phóng dân tộc kia . Phủ nhận công lao của Đảng Cộng Sản và Bác Hồ thì cũng có nhiều nhà sử học tự phong làm rồi nhưng chưa ai đem AND của mình ra làm bằng chứng như cô nàng này thì quả là độc cô cầu bại !!!

Dân tộc Việt Nam hay bất cứ dân tộc nào cũng vậy , không ai muốn đất nước chia năm xẻ bảy, chằng hiểu sao cô nàng sử gia này không muốn đất nước thống nhất, . Để chứng minh Miền Nam không cần phải được giải phóng nàng dùng một Sử liệu rất ….vỉa hè là :“ nghe nói “ . Nguyên văn : “Theo như những người đã từng sống ở Sài Gòn trước năm 75 kể lại thì ngày đó Sài Gòn giống thiên đường hơn là xứ nô lệ”. Sài Gòn là thiên đường , có lẽ đúng với nhóm người hưởng lợi ích của Mỹ vì họ được ăn ngon mặc đẹp , nhảy đầm uống rượu Tây . cái phồn hoa giả tạo của Sài Gòn ngày ấy hóa ra lại có ma lực vô cùng lớn, khiến cho những con người sống ở thế kỷ 21 như nhà sử học này đắm đuối . Sài Gòn là Sài Gòn chứ phải là Miền Nam đâu.Chính thể VNCH nó thế,chỉ giỏi trình diễn bộ mặt tươm tất ở đô thị . Hiểu biết của nhà sử học này cũng như các nhà rân chủ về Miền Nam chỉ là qua hình chụp quận 1 , quận 3 của Sài Gòn trước 75 và chấm hết . “ Vì quận 1 , quận 3 là thiên đường nên không cần phải giải phóng Miền Nam” là slogan của trường phái sử học quái dị này 

Bàn về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đât nước, nhà sử học lại so sánh Việt Nam với nước Đức thời Hitler. Cuộc kháng chiến này chẳng qua như phát xit Đức xâm lược châu Âu .Hóa ra theo nhà sử học thì Miền Nam không phải một phần máu thịt của đất nước , và người dân Miền Nam không phải dân Việt Nam !!!! Với phát hiện này có lẽ cô nàng trở thành nhà nhân chủng học mới xứng tầm

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta được gọi là : kháng chiến thần thánh “ vì dân ta can trường , chống chọi kẻ thù mạnh hơn nhiều lần suốt mấy chục năm thế nhưng nhà sử học này không phục . Theo nàng thì có gì đáng phục đâu , vì “Trước năm 75, vũ khí, súng đạn, quân trang của lính miền Bắc chủ yếu là do Liên Xô và Trung Quốc trang bị, đến cả cái mũ cối mà anh bộ đội cụ Hồ đội cũng là của Trung Quốc cho.” ( ngưng trích ). Thiệt là khổ cho nhân dân ta quá , bởi vì muốn nàng phục thì nhân dân ta phải dùng giáo mác cung tên, gậy tầm vông mà chơi với sung đạn , xe tăng, B52… của Mỹ mới được .! 

Công trình sử học của cô nàng này càng đọc càng buồn cười , vì nó ấu trĩ ngô nghê vô cùng. Thật ra một Facebook user viết nhăng viết cuội cái gì đó là chuyện nhỏ như con thỏ.ai rỗi hơi mà để ý , Thưc tế nhiều năm nay cũng có những kẻ chuyên nhào nặn bóp méo lịch sử đất nước bằng những cuốn sách, tác phẩm này nọ, ít nhiều họ cũng dành tim óc cho những đứa con tinh thần bốc mùi ấy .Dẫu sao những công trình kiểu như “ bên thắng cuộc “ cũng có chút gì đó để người ta cãi nhau .. Hiện tượng có đến hơn một ngàn người khen ngợi đồng tình với thứ giấy lộn của cô Thùy Linh quả nhiên bất thường ! Hơn một ngàn kẻ ngu ngơ, thiếu tư duy .. các bạn có hình dung một ngàn người nó thế nào không? Xếp đầy 20 container 40 feet đấy thưa các bạn .

Câu Hỏi “Có Cần Giải Phóng Miền Nam Hay Không” Và Một Ngàn Cái Like Ngốc Nghếch

Hôm nay,một ngày chủ nhật êm ả trên đất nước thân yêu của chúng ta .Ngày cuối tuần dân Việt Nam chúng ta sum họp bên gia đình hoặc cùng bạn bè ăn nhậu phà ca xả stress để chuẩn bị cho 6 ngày làm việc. Facebook và Blog của các nhà rân chủ cũng im ắng lạ thường, có lẽ các ‘ nhà ” vẫn còn ” quá choáng váng vì số phận ” sau cú sập bẫy tuyệt thực của Cù lão phu nhân nên tạm thời gió bão biến đâu mất . Trong cái lặng lẽ ê chề của của nhà rân chủ bỗng nhiên nổi lên một nhà sử học mới toanh có cái tên thật đẹp: Nguyễn Thùy Linh. Chẳng biết cô nàng ngâm cú lịch sử Việt Nam được bao lâu , trình độ lùn hay dài cỡ nào nhưng công trình của nàng vừa khui chai bật nắp đã nhận ngay 1.145 cái like hớn hở . Công trình của nàng là câu hỏi ” có cần giải phóng Miền Nam hay không ?’ ,vai trò của Đảng Cộng Sản và chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử cận đại. Công trình tóm gọn chưa tới 2 trang giấy A4, quy mô và tính học thuật ngang ngửa một buổi chém gió của các bác ghiền thuốc lào, ấy thế mà có hơn 1 ngàn người gật gù tán thưởng mới là điều kỳ cục .đến độ buồn cười

Nhà sử học phán “Xét về mặt sinh học thì Thùy Linh là do ba mẹ sinh ra, ba của Thùy Linh là do ông bà nội sinh ra, còn mẹ của Thùy Linh là do ông bà ngoại sinh ra…Không thấy Bác và Đảng xuất hiện trong chuỗi quá trình đó.” Để chứng minh rằng nàng chả bà con gì với lịch sử .Cái con người bằng xương bằng thịt cộng với phụ kiện làm đẹp của nàng không hề là hệ quả của lịch sử . Có lẽ nàng sống ở một hành tinh khác, thở trong bầu khí quyển khác nên nàng không hiểu tại sao dân Việt Nam phải cúng bái Quốc tổ Hùng Vương, cứ phải tưởng nhớ các vị Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lý thường Kiệt…. Theo nàng , một người Pháp chả việc gì phai oánh giá công lao ông De Gaul, một anh Mỹ cũng chả rỗi hơi mà biết Washington là ai vì cái sự kiện trứng và tinh trùng gặp nhau tạo ra họ chả can hệ gì với mấy anh hung giả phóng dân tộc kia . Phủ nhận công lao của Đảng Cộng Sản và Bác Hồ thì cũng có nhiều nhà sử học tự phong làm rồi nhưng chưa ai đem AND của mình ra làm bằng chứng như cô nàng này thì quả là độc cô cầu bại !!!

Dân tộc Việt Nam hay bất cứ dân tộc nào cũng vậy , không ai muốn đất nước chia năm xẻ bảy, chằng hiểu sao cô nàng sử gia này không muốn đất nước thống nhất, . Để chứng minh Miền Nam không cần phải được giải phóng nàng dùng một Sử liệu rất ….vỉa hè là :” nghe nói ” . Nguyên văn : “Theo như những người đã từng sống ở Sài Gòn trước năm 75 kể lại thì ngày đó Sài Gòn giống thiên đường hơn là xứ nô lệ”. Sài Gòn là thiên đường , có lẽ đúng với nhóm người hưởng lợi ích của Mỹ vì họ được ăn ngon mặc đẹp , nhảy đầm uống rượu Tây . cái phồn hoa giả tạo của Sài Gòn ngày ấy hóa ra lại có ma lực vô cùng lớn, khiến cho những con người sống ở thế kỷ 21 như nhà sử học này đắm đuối . Sài Gòn là Sài Gòn chứ phải là Miền Nam đâu.Chính thể VNCH nó thế,chỉ giỏi trình diễn bộ mặt tươm tất ở đô thị . Hiểu biết của nhà sử học này cũng như các nhà rân chủ về Miền Nam chỉ là qua hình chụp quận 1 , quận 3 của Sài Gòn trước 75 và chấm hết . ” Vì quận 1 , quận 3 là thiên đường nên không cần phải giải phóng Miền Nam” là slogan của trường phái sử học quái dị này

Bàn về tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đât nước, nhà sử học lại so sánh Việt Nam với nước Đức thời Hitler. Cuộc kháng chiến này chẳng qua như phát xit Đức xâm lược châu Âu .Hóa ra theo nhà sử học thì Miền Nam không phải một phần máu thịt của đất nước , và người dân Miền Nam không phải dân Việt Nam !!!! Với phát hiện này có lẽ cô nàng trở thành nhà nhân chủng học mới xứng tầm

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta được gọi là : kháng chiến thần thánh ” vì dân ta can trường , chống chọi kẻ thù mạnh hơn nhiều lần suốt mấy chục năm thế nhưng nhà sử học này không phục . Theo nàng thì có gì đáng phục đâu , vì “Trước năm 75, vũ khí, súng đạn, quân trang của lính miền Bắc chủ yếu là do Liên Xô và Trung Quốc trang bị, đến cả cái mũ cối mà anh bộ đội cụ Hồ đội cũng là của Trung Quốc cho.” ( ngưng trích ). Thiệt là khổ cho nhân dân ta quá , bởi vì muốn nàng phục thì nhân dân ta phải dùng giáo mác cung tên, gậy tầm vông mà chơi với sung đạn , xe tăng, B52… của Mỹ mới được .!

Công trình sử học của cô nàng này càng đọc càng buồn cười , vì nó ấu trĩ ngô nghê vô cùng. Thật ra một Facebook user viết nhăng viết cuội cái gì đó là chuyện nhỏ như con thỏ.ai rỗi hơi mà để ý , Thưc tế nhiều năm nay cũng có những kẻ chuyên nhào nặn bóp méo lịch sử đất nước bằng những cuốn sách, tác phẩm này nọ, ít nhiều họ cũng dành tim óc cho những đứa con tinh thần bốc mùi ấy .Dẫu sao những công trình kiểu như ” bên thắng cuộc ” cũng có chút gì đó để người ta cãi nhau .. Hiện tượng có đến hơn một ngàn người khen ngợi đồng tình với thứ giấy lộn của cô Thùy Linh quả nhiên bất thường ! Hơn một ngàn kẻ ngu ngơ, thiếu tư duy .. các bạn có hình dung một ngàn người nó thế nào không? Xếp đầy 20 container 40 feet đấy thưa các bạn .

Một Sự Thật Về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam

Vì vậy mà mới khi mở miệng là chị thích dùng tiếng Pháp hơn tiếng Việt, hoặc có thói quen pha lẫn tiếng Pháp vào lời nói và mỗi khi đi giao dịch bên ngoài thì chị tự lái xe lấy chớ không phải nhờ tài xế đưa đi. Vậy chị Bảy Hồng là ai ? Không ai khác hơn là bà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, Bộ Trưởng Y Tế của chính phủ lâm thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam, nhân vật đứng hàng thứ hai về phái nữ, sau bà Nguyễn Thị Bình trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Cái bí danh Bảy Hồng mà bà chọn cũng bao hàm nhiều ý nghĩa, Bà là con thứ bảy trong gia đình. Từ ngày bà tham gia MTGPMN do bọn quỷ đỏ miền Bắc nặn ra, để chứng tỏ cho Bác và Đảng thấy rằng bà đã thấm nhuần lời dạy của Bác là “cán bộ trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa phải vừa Hồng vừa Chuyên”, mà Hồng là gốc, còn Chuyên chỉ là ngọn, cho nên bà không ngần ngại dán cái nhãn hiệu Bảy Hồng vào người bà. Đối với đồng bào Việt Nam thì bà Bình chỉ mới được nhiều người biết tới khi bà xuất hiện trong phái đoàn VC tại hội đàm Ba-Lê mà thôi. Riêng bà Dương Quỳnh Hoa thì hầu như đồng bào vùng Saigon-Chợ Lớn không ai là không biết hoặc nghe tiếng, vì bà là một bác sĩ y khoa khá nổi tiếng. Bà có phòng mạch tại tư thất, một ngôi biệt thự đẹp đẻ ở gốc đường Hồng Thập Tự và Huyện Thanh Quan.

Bà là con của ông Dương Văn Th., người Việt lai Tàu, giáo sư kỳ cựu của trường trung học lớn nhất của Sàigon thời xưa, trường Petrus Ký. Vì gia đình bà thuộc “trâm anh thế phiệt” của miền Nam nên anh em bà đều được gởi sang Pháp du học và tất cả đều thành tài. Ít nhất bà và một người anh đã làm việc cho CSVN như là những gián điệp.

Sau khi tốt nghiệp đại học Y khoa Pháp vào khoảng năm 1954 (24 tuổi), bà trở về Saigon để hành nghề, chuyên về sản và nhi khoa. Ngay từ khi tới Pháp, Hoa đã làm việc cho Đảng Cộng sản VN ngay từ năm 1948 (18 tuổi) và tham gia đảng CS Pháp năm 1954. Khi trở về Saigon, Hoa có nhiệm vụ tổ chức và móc nối với các bác sĩ cùng giới trí thức để dụ họ vào bưng hay tham gia hoạt động cho đảng CS. Hoa đã trở thành một tay nằm vùng đắc lực cho cộng sản. Ngoài thời gian làm việc tại bịnh viện Nhi Đồng, bà mở phòng mac.h tư vào sáng sớm và chiều tối mỗi ngày. Phòng mạch của bà hồi đó rất đông khách. Vốn xuất thân từ một gia đình giàu có lại thành công trong nghề nghiệp, nên chẳng bao lâu sau bà đã trở nên triệu phú. Thế nhưng trong xã hội Việt Nam đối với một phụ nữ có nhan sắc, có bằng cấp cao và giàu có như bà thì ít có đấng nam nhi nào dám ngấp nghé tới. Bạn bè của bà, ngay cả các đồng nghiệp cũng ngại tới lui, vì vậy mà bà chỉ thường giao thiệp với bạn bè ngoại quốc nhiều hơn là Việt Nam.

* Tình yêu, cạm bẫy và công tác “nằm vùng” :

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hoà, bác sĩ Trần Văn Th. là một nhân vật rất có uy thế. Ông tuy lớn tuổi nhưng vẫn còn độc thân, ăn nói lịch thiệp, lại hào hoa phong nhã mà cũng nhiều thủ đoạn. Ngoài chức vụ Tổng Giám Đốc Thông Tin được xếp ngang hàng một Bộ Trưởng và làm việc trực tiếp dưới quyền Tổng Thống Diệm, bác sĩ Th. còn được ông cố vấn Nhu ủy thác việc theo dõi các nhà trí thức có tư tưởng thân cộng hoặc trung lập. Vốn đã nghi ngờ bà Hoa từ lâu nhưng biết là khó chinh phục được bà vì hàng rào tuổi tác, nên ông Th. đã dựa vào công tác mật vụ của ông để lôi cuốn bà. Ông đã lập hồ sơ trình ông cố vấn về những hoạt động của bà Hoa có liên hệ với những tổ chức thân Cộng trong khi bà còn là sinh viên ở Pháp. Thế là bác sĩ Th. được giao nhiệm vụ theo dõi hành tung của bà Hoa. Việc hoạch mưu thiết kế như đã thành. Bác sĩ Th. bèn thả mồi để nhử cho bà sa vào bẩy để hốt VC mà bẩy “tình” là để ông ôm gọn con mồi vào lòng. Là một bác sĩ được tin dùng, lại có nhiều thủ đoạn thì tránh sao con nai tơ không bị lọt bẩy. Nào vuốt ve, nào dụ dỗ, nào đe doạ, nào cảnh cáo, có bao nhiêu ngón nghề ông bác sĩ già đều trổ ra hết. Cho nên chỉ vài tháng sau, đôi bạn đồng nghiệp đã trở thành đôi bạn tình, cũng thắm thiết, cũng say sưa, cũng thơ mộng như bất cứ mối tình đầu nào. Tuy không cưới hỏi chính thức nhưng cặp tình nhân nầy đã chung sống những năm thật đầm ấm và hạnh phúc bên nhau. Cho tới 11/63. Tổng Thống Diệm bị giết, bác sĩ Th. cũng bị rơi đài.

Bác sĩ Vương Quang Trường lên làm Tổng Trưởng Y Tế, liền đẩy ông Th. làm Giám đốc bịnh viện Lâm Đồng. Vì không thể bỏ Saigon (!) nên Hoa đành ở lại Thế là 2 người phải tạm xa nhau. Ở Lâm Đồng được một thời gian thì bác sĩ Th. lại “cua” một cô nữ hộ sinh trưởng làm việc dưới quyền rồi lấy cô nầy làm vợ mà bỏ rơi người tình cũ vừa sang, vừa giàu, đang bị theo dõi ở Saigon. Bị phản bội trắng trợn và tàn nhẫn, Hoa đã sống trong những chuổi ngày vô cùng dau khổ và oán hờn. Trong cảnh tuyệt vọng đó, ngoài giờ bù đầu làm việc ở bịnh viện, bà cố đi tìm một lối thoát : chính trị. Bà tiếp xúc với nhóm trí thức. Vì nhóm Trịnh Đình Thảo lúc đó đã có liên hệ với CS nên một thời gian ngắn sau khi gia nhập vào nhóm nầy bà Hoa đã bị Tổng Nha Cảnh Sát bắt giam vài tuần rồi được thả. Tới khi VC mở cuộc tổng công kích vào dịp Tết Mậu Thân. Tướng Nguyễn Ngọc Loan lúc bấy giờ là Tổng Giám Đốc Cảnh sát Quốc gia bố ráp nhóm Trịnh Đình Thảo rất gắt gao và đã bắt giam một số người trong nhóm. Vì hoảng sợ, Hoa liền mang vàng bạc bỏ trốn vào bưng gia nhập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

* Công tác sau khi gia nhập MTGPMN :

Sau khi hiến tất cả của cải mang theo cho Trung Ương Cục miền Nam bà Dương Quỳnh Hoa được bổ nhiệm vào chức vụ Bộ trưởng Y tế, Xã hội và Thương binh của chính phủ lâm thời nầy, chẳng qua là tổ chức bù nhìn và dàn cảnh của CSBV nhằm lừa bịp quốc tế mà thôi. Tất cả quyền hành đều nằm gọn trong “Cục R” đặt dưới quyền điều khiển của Hà Nội. Ở “Cục R” một thời gian ngắn thì bà Hoa ra Hà Nội. Bộ Chính Trị của đảng muốn lợi dụng khả năng và địa vị của Hoa để đẩy mạnh mặt trận ngoại giao trên chính trường quốc tế. Vốn biết bà là một nhà trí thức có tên tuổi ở miền Nam, đã từng du học Pháp và nói tiếng Pháp lưu loát, nên bọn lãnh đạo ở Hà Nội cử bà đi công tác lưu động tại Pháp và Âu châu để vận động hậu thuẩn ngoại giao và viện trợ cho MTGPMN, đồng thời xúc tiến công tác trí thức vận trong giới Việt kiều và sinh viên VN tại Âu châu. Suốt thời gian nầy, bà thường xuyên có mặt ở Pháp nhiều hơn là ở “Cục R”. Và cũng trong thời gian nầy bà đã chính thức kết hôn với một kỹ sư ngành điện toán, hoạt động trong Hội Việt Kiều Yêu Nước, một tổ chức tay sai của VC tại Pháp… Ngay những ngày đầu sau khi Saigon bị đổi chủ, bà trở lại ngôi biệt thự cũ khi xưa của bà…

* Hoạt động sau 1975 của Dương Quỳnh Hoa.

Trong những tháng đầu tiên sống dưới chế độ CS, người dân miền Nam rất hoang mang lo sợ. Ngay sau sau khi tiến chiếm miền Nam, vì Việt Cộng chưa thiết lập xong guồng máy cai trị và kiểm soát từ các thành thị tới khắp vùng nông thôn, bọn lãnh đạo Hà Nội đã áp dụng một chính sách mềm dẻo, cởi mở và nương tay để cho dân chúng khỏi hoang mang, dao động; mặt khác để trấn an công chức và quân nhân các cấp theo chế độ cũ còn kẹt lại, chúng đã dụ dỗ họ hợp tác với chúng bằng cách khai báo tất cả những tin tức cùng tài nguyên của các cơ quan dân và quân sự từ trung ương tới địa phương. Vì vậy chúng mới đưa ra chiêu bài hoang mang lo sợ. Ngay sau sau khi tiến chiếm miền Nam, vì Việt Cộng chưa thiết lập xong guồng máy cai trị và kiểm soát từ các thành thị tới khắp vùng nông thôn, bọn lãnh đạo Hà Nội đã áp dụng một chính sách mềm dẻo, cởi mở và nương tay để cho dân chúng khỏi hoang mang. Trong buổi lễ mừng chiến thắng được tổ chức vào ngày 15/5/1975, người ta thấy tất cả các nhân vật trong ban lãnh đạo MTGPMN ngồi cùng hàng với các Ủy Viên Bộ Chính Trị của Đảng và các Bộ trưởng trong chính phủ Hà Nội. Trong phần giới thiệu, bà Hoa được xưng tụng bằng những từ ngữ thật cao sang, bóng lộn :”Ủy viên đoàn Chủ tịch MTGPMN, kiêm Bộ trưởng Xã hội, Y tế và Thương binh, Chính phủ Lâm Thời Cộng Hoà miền Nam Việt Nam”. Trên thực tế, cái chính phủ Lâm thời đó chỉ là một tấm bình phong và các vai trò mà Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình và Dương Quỳnh Hoa đang đóng lúc đó chỉ là vai trò bung xung., hữu danh vô thực.

Tuy giữ chức Bộ trưởng Y Tế nhưng mọi chủ trương, đường lối của Bộ đều phát xuất từ Hà Nội và mọi quyết định đều nằm gọn trong tay của Nguyễn Văn Thủ, bí danh Bảy Chi, nguyên trưởng ban Dân Y “Cục R” và là tay chân của Phạm Hùng. Tên Nguyễn Văn Thủ vốn là nha sĩ tốt nghiệp tại Pháp, theo Việt Cộng từ năm 1965 và là Trưởng ban Y Tế của Quốc hội kiêm Chủ tịch hội Hồng Thập Tự Việt Cộng. Vì vậy mà bà Bộ Trưởng Hoa lâm vào tình cảnh “ngồi chơi xơi nước”. Không có việc gì làm nên ngày ngày bà chỉ lái xe đi hết bịnh viện nầy đến bịnh viện nọ để đóng vai con két mòng, chuyên giải thích, tuyên truyền chủ trương và đường lối của CS cho các nhân viên y tế thuộc chế độ cũ nghe để họ yên tâm phục vụ “Cách Miệng”.

Đến đầu năm 1977, sau khi đã nắm được trọn quyền kiểm soát miền Nam rồi thì Hà Nội chính thức khai tử Mặt Trận Giải phóng Miền Nam và chính phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam, hai công cụ mà chúng đã nặn ra từ năm 1960, và bà Hoa cũng mất luôn chức Bộ Trưởng Y Tế. Các nhân vật lãnh đạo trong MTGPMN sau đó đều được nâng lên hàng Phó hết, nào là Phó Chủ Tịch, Phó Thủ Tướng, Phó Chủ Nhiệm, v.v…trong cơ cấu chính quyền trung ương Hà Nội. Những ai đã từng sống trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà đều biết là người ở ngôi vị Phó trong bất cứ một tổ chức, một cơ quan nào ắt hẳn thấm thía về vai trò “yes man” nầy.

Đã bị ngồi chơi xơi nước ngót hai năm trời, nay lại bị cho về vườn nữa, bà Hoa nay mới thấm thía cái trò vắt chanh bỏ vỏ cố hữu của CS. Nhưng dù uất hận tới đâu, cay cú đến mấy thì một khi đã bước vào cái thòng lọng khắc nghiệt của CS rồi có mấy ai còn hy vọng để thoát ra ? Cho nên bà đành xếp cái bằng Y Khoa Bác Sĩ do trường Đại Học Y Khoa Ba Lê cấp phát cho bà cách đây hơn 20 năm vào tủ cho cho mối và dán gậm tỉa dần, và ngày ngày cùng với người nhà lái xe vào nông trại của bà ở Cầu Sơn (Thị Nghè) để vui với đàn heo và đám rẫy.

Khốn thay, họa vô đơn chí. Một hôm trên đường lái xe đi sang Cầu Sơn, có lẽ lòng bà ngỗn ngang trăm mối tơ vò, hận người tình xưa bội bạc, cay lũ đồng chí mặt người dạ thú, chỉ biết lợi dụng bà khi còn thế cô, sức yếu ở trong bưng biền, tới ngày chiến thắng thì loại bà ra khỏi chính trường để chúng độc quyền thao túng, cho nên bà đã lỡ tay tông vào chiếc xe Honda và cán chết tên Thiếu tá CS đang lái chiếc xe gắn máy đi ngược chiều. Với tâm thần từ lâu bất định, hoang mang, nay lại cán chết người, bà vô cùng bối rối và đã hành động một cách dại dột : bà cùng người nhà khiêng xác tên Thiếu tá VC bỏ lên xe, chở thẳng vào nhà xác của Bảo sanh viện Từ Dũ để dấu và mướn nhân viên nhà xác ở đây chôn cất để phi tang. Nhưng sau đó, thân nhân của tên Thiếu tá tử nạn phát giác được, tố cáo bà. CS đã cho bà ngồi chầu rìa từ khuya rồi nhưng việc bắt giam một nhân vật chính trị của MTGPMN, mà nhân vật nầy lại là đàn bà, xét ra sẽ gây ảnh hưởng bất lợi về chính trị cho chúng, nên bọn lãnh đạo ở Hà Nội đã ra lịnh cho Sở Công An Saigon tạm tha bà, và ban cho bà cái ân huệ cuối cùng là làm Trưởng Phòng Dinh Dưỡng của Bệnh viện Nhi Đồng II (tức Bệnh viện Đồn Đất được biến cải) để nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng cho trẻ con Việt Nam.

Điều trớ trêu và khá nực cười là, ở một nước nhược tiểu như VN, bị chiến tranh tàn phá hơn 30 năm qua, lại bị bọn CS làm cho phá sản, bao nhiêu tài nguyên trong nước chúng đều vơ vét hết, một phần đem đi trả nợ cho các nước đàn anh, một phần để đổi lấy súng đạn đem đi thực hiện mộng bành trướng của CS quốc tế ở Kampuchia và Lào, khiến cho miền Nam vốn là một vựa lúa của vùng Đông Nam Á cũng phải xơ xác, điêu tàn, gạo không đủ để ăn, áo quần không đủ để mặc, thì việc nghiên cứu để cải tiến dinh dưỡng chỉ là một trò hề, không hơn, không kém. Cơm không đủ ngày chiến tranh tàn phá hơn 30 năm qua, lại bị CS làm cho phá sản. CS cũng biết như thế, nhưng có lẽ chúng muốn mượn dịp nầy để chôn vùi luôn sự nghiệp của bà đi, cả sự nghiệp chuyên môn lẫn sự nghiệp chính trị. Nỗi uất hận đã chồng chất và bị đè nén từ lâu cho nên chỉ chờ có dịp là bùng nổ.

Nhân dịp phái viên của đài truyền hình CBS thăm Saigon vào giữa thập niên 1980 có tới phỏng vấn bà tại văn phòng, bà đã đứng giữa đám đông trẻ em VN èo uột ốm yếu chỉ có da bọc xương trong bịnh viện mà trả lời bằng tiếng Pháp rằng :”Nền y tế của Việt Nam (CS) đã bị lùi lại sau cả hàng chục năm so với nền y tế của chế độ cũ (Việt Nam Cộng Hoà) chỉ vì họ (cấp lãnh đạo CS ở Hà Nội) quá thiển cận và hẹp hòi. Và nguyên nhân duy nhất gây nên tình trạng thiếu dinh dưỡng cho các trẻ em này chỉ là do sự THIẾU ĂN mà thôi”.

Không thấy sau buổi phỏng vấn nầy CSVN đã dành cho bà Dương Quỳnh Hoa hình phạt nào, nhưng hình phạt nào thì đối với bà cũng trở thành vô nghĩa. Từ một vị bác sĩ y khoa đã thành công trong nghề nghiệp, đã từng giữ chức Bộ trưởng trong chính phủ CS miền Nam, mà ngày nay bà phải trở về nuôi heo và trồng rẫy ở Cầu Sơn thì thử hỏi bà còn có gì nữa để mà phải sợ, phải lo, phải e dè, kiêng nể ? Nếu có chăng, đó là sự trừng phạt của lương tâm mà chắc chắn là nó đã dày vò, hành hạ từ cơ thể đến tinh thần của bà từ mấy năm qua rồi : bà đã một lầm hai lỡ, trót dại, tự biến thành công cụ cho CSVN để cho chúng gieo tang thương, điêu đứng cho ngót mấy chục triệu dân miền Nam và khiến cho bà ngày nay phải thân bại danh liệt.

Niềm khao khát của bà hiện nay phải chăng là chờ một dịp nào đó để thoát ra cái thiên đường CS mà bà đã từng ước mơ hơn 20 năm về trước ? Điều nầy chắc cũng còn xa vời lắm, vì hiện nay còn có một số người có “máu nóng” và mau chóng quên đi bài học cũ, đã và đang tiếp tục đi vào vết xe cũ mà bà đã trải qua. Họ hà hơi tiếp sức cho CS để CS còn tiếp tục đè lên đầu lên cổ dân Việt. Những người nầy không bao giờ biết một mảy may gì về cuộc đời bi đát của bà; chuyện kết cuộc của họ rồi một ngày nào đó cũng sẽ có người hay biết và kể lại cho chúng ta nghe. Rồi cứ thế mà lịch sử sẽ tái diễn cho tới khi không còn người Việt nào tin vào người CS nữa : mất lòng tin của mọi người, CS phải chịu cáo chung m! à thôị Ngay bây giờ, sở dĩ CS vẫn còn đó vì còn có người còn tin CS, kể cả những người đã chạy trốn CS trước kia, đã trở lại bắt tay với CS. Ai cũng biết, CS nhờ có tài tuyên truyền láo khoét, vừa dụ dỗ vừa bóp chẹt, nhờ vậy dân ta không thể chống lại họ thẳng tay. Lề lối cai trị như vậy không bao giờ tồn tại mãi mãi vì vừa “sợ dân”, vừa tàn bạo với họ. Đó là thế đối đầu chớ không phải thương mến dân.

Biết rồi thì đã muộn. Dương Quỳnh Hoa quả là một giai nhân đặc biệt, có lý tưởng và tài ba của miền Nam nước Việt, nhưng lỡ sinh trong một thời thế đầy lừa đảo của Cộng sản; nói một đàng làm một nẽo. Không chỉ có một mình bà mà thôi, biết bao người đã vì nó mà tan tác cả tuổi xanh.

Tài liệu tham khảo :

1. “How’s Vietnam Doing ? Doctor Expresses Disgust”. (“Mike T. Do”).

2. F.E.E.R.(Dec-02) Ex-Communist Official Turns Into Vocal Critic.

Bài viết khác

Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thăm Quân Giải phóng miền Nam tại miền Đông Nam Bộ. (Ảnh tư liệu – theo Báo QĐND)

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá; trong đó có bài học về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, mà việc thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam cách đây 50 năm là một sáng tạo điển hình của nghệ thuật tổ chức chỉ đạo chiến tranh nhân dân Việt Nam của Đảng ta.

Thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965) của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) là đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang ở hai miền Nam – Bắc; trong đó, tập trung xây dựng lực lượng vũ trang miền Nam đủ mạnh, để từng bước đánh bại từng chiến lược, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 15-2-1961, tại chiến khu Đ (miền Đông Nam Bộ), Quân giải phóng miền Nam (QGPMN) Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân. QGPMN đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sự chỉ huy thống nhất của Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam và Ban Quân sự thuộc Trung ương Cục. QGPMN có nhiệm vụ chủ yếu là làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Ngay sau khi ra đời, QGPMN bám sát phương châm phát triển lực lượng, cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ (1961-1965). Thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng, QGPMN tập trung xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; trong đó, chú trọng phát triển bộ đội chủ lực cả về biên chế, tổ chức và vũ khí, trang bị. Chỉ sau một năm thành lập (1962), QGPMN đã xây dựng được 2 trung đoàn bộ binh ở miền Đông Nam Bộ và 3 trung đoàn bộ binh ở Quân khu 5. Đó là những đơn vị bộ đội chủ lực đầu tiên đặt nền móng cho QGPMN không ngừng phát triển lớn mạnh. Các đơn vị đã thực hiện tốt việc kết hợp vừa xây dựng, vừa đẩy mạnh hoạt động tác chiến với nhiều trận đánh quy mô vừa và nhỏ, tiêu biểu là trận đánh Ấp Bắc (Mỹ Tho) tháng 1-1963, giành thắng lợi, mở ra phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công” trên toàn chiến trường miền Nam. Từ đánh tập trung quy mô đại đội, tiểu đoàn, phát triển lên quy mô trung đoàn; trong chiến dịch Bình Giã (từ ngày 2-12-1964 đến ngày 3-1-1965), lần đầu tiên ta sử dụng 2 trung đoàn bộ binh tiến công, đánh bại các biện pháp chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch. Tiếp đó, QGPMN mở chiến dịch Đồng Xoài (từ ngày 10-5 đến ngày 22-7-1965) và chiến dịch Ba Gia (từ ngày 28-5 đến ngày 20-7-1965) giành thắng lợi, đánh dấu bước phát triển mới về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến tập trung, làm thất bại các biện pháp chiến lược của địch, góp phần cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

QGPMN tiếp tục phát triển lực lượng, đẩy mạnh hoạt động tác chiến, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (1965-1968). Để cứu vãn tình thế thất bại trên chiến trường, đế quốc Mỹ vội vàng đưa quân vào miền Nam Việt Nam. Lực lượng này được trang bị hiện đại, có hoả lực mạnh, sức cơ động cao và là đối tượng tác chiến của QGPMN. Để giành thắng lợi trước đối tượng mới, QGPMN đã tích cực nghiên cứu nắm địch, đồng thời chủ động phát triển nhanh lực lượng từ quy mô 5 trung đoàn lên 6 sư đoàn, bố trí thành ba khối chủ lực cơ động, triển khai hợp lý trên các chiến trường. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, QGPMN đã đẩy mạnh tác chiến tập trung của các đơn vị bộ đội chủ lực, kết hợp với tác chiến rộng khắp quy mô vừa và nhỏ của lực lượng dân quân du kích, để thắng ngay trận đầu, giành thắng lợi từng bước tiến tới làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ. Những chiến thắng liên tiếp: Vạn Tường (ngày 18-8-1965), đánh bại cuộc hành quân “tìm diệt” quy mô lớn của đế quốc Mỹ, Chiến dịch Plây Me (từ ngày 19-10 đến ngày 26-11-1965) tiêu diệt gần hết và đánh thiệt hại 2 tiểu đoàn kỵ binh và diệt 1 chiến đoàn cơ giới của Mỹ, 1 tiểu đoàn bộ binh nguỵ, phá 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay. Điều đó chứng minh rằng, QGPMN đủ sức đánh thắng quân đội viễn chinh Mỹ và đồng minh, dù chúng được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Thắng lợi kế tiếp của Chiến dịch Bàu Bàng-Dầu Tiếng mở ra phong trào “Tìm Mỹ mà diệt”, “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Phát triển thế tiến công, QGPMN đánh bại liên tiếp hai cuộc phản công chiến lược (mùa khô 1965-1966, 1966-1967) và đánh bại cuộc hành quân Gian-xơn-xi-ty (từ ngày 22-2 đến ngày 15-4-1967), bẻ gẫy hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” của 45.000 quân Mỹ… Trước tình thế có lợi cho cách mạng, Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết tâm đẩy mạnh tiến công giành thắng lợi quan trọng về mặt quân sự. Theo đó, QGPMN thực hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) ở nhiều thành phố, thị xã, thị trấn miền Nam, trọng tâm là Huế, Sài Gòn-Gia Định, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, giải phóng 1,4 triệu dân; giáng một đòn quyết định làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pa-ri. Có thể nói, đây là thời kỳ phát triển cách đánh phong phú, đa dạng và sáng tạo của QGPMN.

QGPMN thực hiện tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, cùng toàn dân đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969-1975). Các chiến lược, chiến thuật của Mỹ bị khủng hoảng nghiêm trọng, buộc chúng phải thay đổi phương thức tác chiến “tìm diệt” sang “quét và giữ”, tạo ra những vùng trắng ở ven đô thị, nhất là Sài Gòn, nhằm bảo vệ an toàn trung tâm đầu não; đồng thời, thực hiện Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, đánh phá miền Bắc, xâm lược Lào, Cam-pu-chia, với ý đồ kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ. Trong khi đó, QGPMN gặp nhiều khó khăn: lực lượng bị tổn thất chưa kịp khôi phục, không tiếp tế được vật chất hậu cần do bị đánh phá liên tục… Để duy trì lực lượng tiếp tục chiến đấu, QGPMN tổ chức thành nhiều bộ phận đứng chân ở các vùng, miền khác nhau (vùng lõm căn cứ đồng bằng, vùng giáp ranh hoặc căn cứ miền núi).

Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư kêu gọi quân và dân cả nước quyết tâm chiến đấu “Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”. Tiếp đó, tháng 4-1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết “Về tình hình và nhiệm vụ mới”, nhằm động viên quân và dân hai miền Nam – Bắc, phát triển thế tiến công, tiến lên giành thắng lợi quyết định. Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh quyết định gấp rút xây dựng các lực lượng vũ trang lên một bước mới; trong đó, tập trung xây dựng các đơn vị chủ lực QGPMN. Bộ Tổng tư lệnh điều động nhiều đơn vị với đủ quân số và vũ khí, trang bị từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam và điều chỉnh các đơn vị chủ lực đứng chân ở từng địa bàn chiến lược, nhất là trên hướng trọng điểm. QGPMN được tiếp thêm sức mạnh, tiếp tục phát triển, nâng cao sức mạnh chiến đấu, giữ vững thế có lợi trên các chiến trường; đồng thời, tích cực phối hợp tác chiến với quân và dân hai nước Lào, Cam-pu-chia, liên tiếp giành thắng lợi, làm thay đổi cục diện chiến tranh ở ba nước Đông Dương. Đối với chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương phát triển thế tiến công chiến lược, nhằm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Thực hiện kế hoạch tác chiến năm 1972 của Quân uỷ Trung ương, QGPMN mở Cuộc tiến công chiến lược năm 1972, điển hình là các chiến dịch: Trị – Thiên (từ ngày 30-3 đến ngày 27-6), Bắc Tây Nguyên (từ ngày 30-3 đến ngày 5-6), Nguyễn Huệ (từ ngày 31-3-1972 đến ngày 28-1-1973)… Thắng lợi của Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã buộc chính quyền Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam Việt Nam. Tranh thủ thời cơ, tháng 10-1973, Bộ Chính trị quyết định phát triển lực lượng chủ lực từ quy mô sư đoàn lên quy mô quân đoàn 1, có nhiều vũ khí, trang bị hiện đại, bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày. Đây là sự phát triển vượt bậc về quy mô tổ chức, vũ khí trang bị và trình độ tác chiến, chuẩn bị cho QGPMN mở các chiến dịch tiến công, hiệp đồng binh chủng tiêu diệt lớn quân địch trên toàn chiến trường miền Nam, nhằm sớm kết thúc chiến tranh. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình chiến trường miền Nam, trong nước, thế giới, nhất là khả năng quay trở lại của quân Mỹ, Bộ Chính trị đã hạ Quyết tâm chiến lược: mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy quy mô lớn vào mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thực hiện quyết tâm đó, QGPMN cùng với quân và dân cả nước tích cực tạo lực, tạo thế, chủ động mở Chiến dịch Tây Nguyên, chọc thủng tuyến phòng thủ chiến lược của địch, tạo đà cho QGPMN liên tiếp mở các chiến dịch: Trị – Thiên, Huế – Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26 đến 30-4-1975) giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh là một minh chứng cho sự lớn mạnh của QGPMN về trình độ tổ chức, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến với các quân chủng, binh chủng, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, thực hiện trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh.

Trải qua 14 năm (1961-1975) xây dựng và chiến đấu, QGPMN – bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam – đã làm tròn nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, QGPMN đã phát huy truyền thống, bản chất cách mạng cao đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, hoàn thành vẻ vang sứ mệnh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới rất nặng nề, đã và đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”; trước tiên, xây dựng lực lượng Hải quân, Phòng không-Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử và Trinh sát kỹ thuật hiện đại. Đồng thời, xây dựng Quân đội nhân dân có số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp cao; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, làm nòng cốt trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; sẵn sàng chuyển hóa thành thế trận chiến tranh nhân dân phát triển ở trình độ cao khi đất nước có chiến tranh. Cùng với đó, phải tập trung đầu tư nghiên cứu phát triển khoa học quân sự, lý luận nghệ thuật tác chiến của các quân chủng, binh chủng và các lực lượng, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao; đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng của quân đội từng bước hiện đại. Trước mắt, tập trung đổi mới công tác huấn luyện-đào tạo, nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, để thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã xác định.

và Thượng tá, ThS. ĐỖ HẢI ÂU

1- Quân đoàn 1 ở hậu phương miền Bắc, thành lập 10-1973; Quân đoàn 2 ở Trị-Thiên, thành lập tháng 5-1974; Quân đoàn 3 ở Tây Nguyên, thành lập tháng 3-1975; Quân đoàn 4 ở Đông Nam Bộ, thành lập tháng 7-1974.

Giải Phóng Miền Nam: Cú Đánh Hiểm, Bất Ngờ, Mỹ Và Vnch Không Kịp Trở Tay

Sau khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, quân Mỹ đã rút khỏi miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc chiến chưa hề chấm dứt. Phía Việt Nam cộng hòa (VNCH) vẫn liên tục đẩy mạnh kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng kiểm soát của Quân giải phóng tại nhiều nơi.

Trước tình hình đó, Bộ Thống soái tối cao đã chỉ thị cho Bộ Tổng Tham mưu tiến hành xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà làm cơ sở kết thúc chiến tranh, tiến tới hòa bình thống nhất trên cả nước.

Từ dự thảo lần thứ nhất

Để thực hiện nhiệm vụ Bộ Chính trị giao, Tháng 4. 1973 Bộ Tổng Tham mưu đã thành lập Tổ Trung tâm (TT) do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn – Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách. Các thành viên của Tổ trung tâm gồm: Cục trưởng Cục Tác chiến Vũ Lăng và hai Cục phó là Võ Quang Hồ và Lê Hữu Đức.

Một là, quân đội VNCH bắt đầu suy yếu nhưng yếu đến mức nào và thời gian chống đỡ kéo dài bao lâu? Ban đầu, Tổ TT xác định có thể phải chiến đấu liên tục trong 2 năm, thậm chí có thể sang năm thứ 3 một thời gian sau khi tiêu diệt những bộ phận lớn sinh lực địch, thay đổi nhanh tương quan lực lượng mới giành thắng lợi trọn vẹn.

Hai là, khi chính quyền Sài Gòn có nguy cơ sụp đổ, Mỹ có can thiệp không? Tổ TT nhận định, Mỹ đã thua, phải rút về nước, khó có khả năng quay lại, nhưng phải chú ý cảnh giác với lực lượng răn đe của Mỹ ở Đông Nam Á.

Tổ TT cũng dự kiến khi chính quyền Sài Gòn có nguy cơ sụp đổ, Mỹ có thể sẽ đưa vào vài ba sư đoàn chiếm một vài vùng dọc bờ biển miền Nam Trung Bộ nhằm ngăn chặn đà tiến công của ta để củng cố vùng đồng bằng sông Cửu Long đông người, nhiều của hòng “mặc cả” với ta.

Thứ ba, cũng là vấn đề hết sức quan trọng là hướng tiến công chủ yếu và mục tiêu chủ yếu.

Đặc điểm và yêu cầu của cuộc tổng tiến công lần này, không phải là tiêu diệt một bộ phận binh lực hay phương tiện chiến tranh của địch như Mậu Thân 1968, hay cuộc tiến công năm 1972 mà là lớn hơn rất nhiều. Căn cứ bố trí của địch là “mạnh hai đầu, nhẹ ở giữa” mà Tổ TT không chọn trận mở đầu vào điểm mạnh của địch.

Trên có sở phân tích mạnh yếu của địch, tổ TT nhất trí với đề xuất của Thiếu tướng Vũ Lăng: “hướng tiến công chủ yếu của cuộc tổng tiến công chiến lược giải phóng miền Nam là Nam Bộ”. Phải đánh vào đó – kho người, kho của và hang ổ ngụy quân, ngụy quyền mới nhanh dứt điểm chiến tranh.

Về trận tiến công mở đầu Tổ xác định là Tây Nguyên bởi “Ai làm chủ Tây Nguyên sẽ làm chủ miền Nam”. Tuy nhiên, giữa các mục tiêu Kon Tum, Pleiku và Buôn Ma Thuột thì chọn mục tiêu nào? Đó phải là nơi hiểm yếu mà đánh vào đó sẽ làm rung chuyển cả Tây Nguyên.

Thật ra, không chỉ Tổ TT phát hiện chính xác điểm đột phá chủ yếu của cuộc tổng tiến công là Buôn Ma Thuột, mà một số cán bộ trung, cao cấp từng chiến đấu ở Liên khu V trong kháng chiến chín năm cũng dễ nhận thấy, nếu đánh lớn ở Tây Nguyên thì nên và chỉ có thể tiêu diệt Buôn Ma Thuột trước…

Ngoài những nội dung trên, Tổ TT còn phải nghiên cứu thời điểm bắt đầu cuộc tổng tiến công: năm 1974 hay 1975? Sau khi phân tich về công tác chuẩn bị về quân số và đường sá của ta chưa thật sự đảm bảo nên tổ quyết định chỉ có thể mở chiến dịch lớn vào năm 1975-1976. Thời gian thực hiện kế hoạch dự kiến là 2 năm.

Ngày 5/6/1973, bản Dự thảo lần thứ nhất hoàn thành ghi rõ: “Phương hướng chiến trường, phương hướng chủ yếu các đòn chủ lực:

1-Hướng tiến công chủ yếu là Nam Bộ.

2-Hướng chủ yếu của của chủ lực là: Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Chủ yếu là Tây Nguyên, vì địa hình tốt, bảo đảm phát huy được binh khí kỹ thuật, kết hợp được đòn tiến công chủ lực với đòn tiến công nổi dậy của đồng bằng Quân khu V; bảo đảm liên tục tiến công, có điều kiện bảo đảm cơ sở vật chất, địch hiện tương đối yếu”.

Toàn bộ công việc xây dựng kế hoạch và hoạt động của Tổ TT là tuyệt mật và hoàn toàn nằm trong phạm vi Bộ Tổng tham mưu.

Vào một ngày đầu tháng 6.1973, Thiếu tướng Lê Hữu Đức được “vượt cấp” sang báo cáo tình hình chiến trường như thường lệ với Bí thư thứ nhất (BTTN) Lê Duẩn. Khi biết Bộ Tổng Tham mưu đang xúc tiến xây dựng “Kế hoạch chiến lược…”, ông yêu cầu được nghe báo cáo về kế hoạch này.

Sau khi nghe báo cáo sơ bộ, BTTN Lê Duẩn đã triệu tập toàn tổ TT sang trực tiếp trình bày cho ông nghe về bản kế hoạch ngay chiều hôm ấy. Ông cơ bản nhất trí với những nội dung chính của báo cáo, đồng thời chỉ ra một số phương hướng để thực hiện kế hoạch.

Bản kế hoạch sau đó được báo cáo lên Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Những người đứng đầu toàn quân đã nhất trí cao và chỉ thị cho Tổ TT cần nghiên cứu thêm một số vấn đề để hoàn chỉnh bản kế hoạch.

Không chỉ vậy, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn đã có lần ra tình huống tập bài cho học viên Trường bổ túc quân sự cấp cao:

“Nếu chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu thì mục tiêu đầu tiên là ở đâu?”.

Tuyệt đại đa số đáp án của học viên đều thống nhất chọn hướng nam, đánh vào Buôn Ma Thuột.

Cuối năm 1974, khi được Bộ Quốc phòng hỏi nếu năm 1975 đánh lớn ở Tây Nguyên thì nên đánh vào đâu, Kon Tum, Pleiku hay Buôn Ma Thuột, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 thống nhất trả lời là nên đánh ngay từ đầu vào Buôn Ma Thuột.

Ngày 20.7.1974, Bí Thư thứ nhất Lê Duẩn lại có cuộc gặp riêng với Thượng tướng Hoàng Văn Thái và Thiếu tướng Lê Trọng Tấn – hai Phó Tổng tham mưu trưởng tại Đồ Sơn, Hải Phòng. Lúc này, bản kế hoạch đã dự thảo đến lần thứ 5.

Tại cuộc gặp, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn đã báo cáo kỹ về tình hình quân ta và đối phương trên các chiến trường.

Đồng thời, qua khai thác Đại tá Nguyễn Văn Thọ (tù binh ở chiến dịch Đường 9 – Nam Lào) về kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ông ta nói rằng: “không có hậu cần và vũ khí Mỹ, kế hoạch gì cũng rách; không có Mỹ thì quân đội VNCH giỏi lắm cũng chỉ trụ được 2 năm”…

Nghe xong, BTTN Lê Duẩn nói: “Tôi đồng ý với ý kiến của Bộ Tổng tham mưu là Bộ Chính trị phải có nghị quyết về tình hình mới, thống nhất hành động, thống nhất ý chí để huy động sức mạnh của cả nước vào sự nghiệp lớn lao này”. Và ông đã cho nhiều ý kiến chỉ đạo, xác đáng vào kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu.

Tháng 8.1974, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm việc với Tổ TT để chuẩn bị nội dung cho họp Bộ Chính trị. Đại tướng chỉ thị:

Trước mắt, cần tổng kết cách đánh quân VNCH lấn chiếm, tăng thêm người và hoả lực, bảo đảm quân số tiểu đoàn địa phương có đủ 300, tiểu đoàn chủ lực 400, miền Bắc khẩn trương tổ chức từng tiểu đoàn, đại đội hoả lực mạnh đưa vào chiến trường, tiến tới trung đoàn phải diệt được quận lỵ, chi khu quân sự, tiểu đoàn diệt đại đội địch.

Về hướng tiến công chiến lược nhất trí là nam Tây Nguyên, mở đầu bằng đánh Buôn Ma Thuột. Ông nhấn mạnh về tầm quan trọng và vị trí chiến lược quân sự của Tây Nguyên và những chỗ mạnh, chỗ yếu trong thế bố trí chiến lược của VNCH. Vì vậy càng lộ rõ nam Tây Nguyên là địa bàn vừa hiểm yếu, vừa yếu lại vừa sơ hở.

Ngày 30.9.1974, Hội nghị Bộ Chính trị khai mạc tại Tổng hành dinh có mở rộng đến các ủy viên Quân uỷ Trung ương, đồng chí Võ Chí Công lúc này đang có mặt ở Hà Nội cũng được mời đến dự.

Hội nghị nhất trí phê duyệt kế hoạch chiến lược cơ bản dự thảo lần thứ bảy do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị. Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu phải có kế hoạch tạo thời cơ và đón thời cơ, nhất là khi Thiệu đổ. Cụ thể: “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”.

Về hướng chiến lược, Hội nghị đề ra bộ đội chủ lực phải chuẩn bị trên cả hai hướng:

– Tây Nguyên, trọng điểm là nam Tây Nguyên, là hướng chiến lược rất quan trọng.

– Miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng.

Tây Nguyên được chọn làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975.

Về cách đánh cần kết hợp đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, kết hợp ba mũi giáp công, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược.

Bộ đội chủ lực phải đánh những trận quyết chiến, đánh tiêu diệt lớn trên chiến trường rừng núi, phối hợp với các chiến dịch tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long và Khu 5. Chú ý chia cắt chiến lược, cắt giao thông, tạo điều kiện nổ ra ly khai, binh biến.

Sau cuộc họp ấy, Tổ TT tiếp tục làm việc để hoàn thiện Dự thảo lần thứ 8 bản “Kế hoạch tổng tiến công, tổng công kích”. Bản dự thảo này được trình ra cuộc họp của Bộ Chính trị mở rộng có các tướng lĩnh phụ trách các chiến trường tham dự từ ngày 18.12.1974 đến ngày 8.1.1975 với 3 phương án.

Hội nghị đã lựa chọn Phương án I: Tổng tiến công chiến lược. Hướng chủ yếu là Tây Nguyên. Hướng tiến công chủ yếu và nổi dậy là miền Đông và Sài Gòn. Đồng thời nhấn mạnh:

“Nếu tạo được thời cơ vào đầu năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975”.

Thực tiễn chiến trường năm 1975 đã chứng tỏ sự sáng suốt và thiên tài quân sự của Bộ Thống soái tối cao.

Ngày 10.3.1975, cuộc Tổng tiến công nổi dậy đã mở đầu bằng trận then chốt quyết định Ban Mê Thuột làm rung chuyển Tây Nguyên, tạo thời cơ để giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà 55 ngày sau đó – ngày 30.4.1975.

Và điều thú vị là sau hơn 1 năm xây dựng với 8 lần dự thảo, có cả những đợt đưa ra làm bài tập cho học viên song Bản kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vẫn hết sức bí mật và làm cho đối phương hoàn toàn bị bất ngờ.

(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong Hồi ký “Tổng hành dinh trong Mùa Xuân toàn thắng” của Đại tướng Võ nguyên Giáp).

Thơ 30/4 Và 1/5 Hay Và Ý Nghĩa Chào Mừng Ngày Giải Phóng Miền Nam, Quố

Nhân ngày 30/4 và 1/5, chúng tôi xin tổng hợp và chia sẻ những bài thơ 30/4 và 1/5 hay và ý nghĩa nhất giúp các bạn đọc có thể chiêm nghiệm, tận hưởng ngày nghỉ lễ vui vẻ, hạnh phúc, đồng thời có thể gửi đến người thân thay cho lời chúc.

Những bài chúc mừng ngày 30/4 và 1/5

Tuyển tập bài thơ 30/4 và 1/5

1. Nhớ ngày ấy 30-4-1975

Tháng tư về nước mắt lòng lại chảy

Long nhớ thương theo ngọn bút tuôn trào

Lệ nhòa trên trang giấy mang theo

Tôi lại nhớ năm về trước

Tuổi thanh xuân hiến dâng cho Tổ quốc

Vợ mọc mòn con nhỏ chờ mong

Bao nhiêu người thê phu hóa đá

Thành anh hùng của người mẹ Việt nam

Có những người con gái đảm đang

Nuôi dưỡng mẹ cha con thơ nhỏ dại

Mãi thờ chồng trọn kiếp vọng phu

Bài hát ru con vọng mãi thiên thu

Vào trang nhật ký đời chinh chiến

Anh hy sinh trở thành thánh thiện

Phụ hộ độ trì cho thế hệ mai sau

Một ngôi sao sáng tỏ trên đầu

Luôn thề sống còn vì Tổ quốc

Ai đoán trước sự đời biết được

Niềm vui buồn an ủi sẽ về đâu

Đã nữa đời xa vắng tin nhau

Chim cánh nhạn mỏi mòn bay mãi

Anh vẫn là anh con người vĩ đại

Em vẫn là em con gái hóa chồng

Dù đến đâu em vẫn cầu mong

Anh thanh thoát siêu linh cực lạc

Về với em còn sống trên đời

Cứ ngày này nhớ lắm anh ơi !

Đêm không ngủ bồi hồi mơ tưởng

Thấy anh về lòng em sung sướng

Trăng xế thềm buông rèm ngủ cùng em .

(Thơ: Hồ Lan)

2. Nhớ chiều 30/4

Oai hùng một thuở vang núi sông

Mây đen tan hết tỏa nắng hồng

Rạng rỡ non sông đầu mùa hạ

Rộn rã chiều quê mừng chiến công

Thơm mùi thóc lúa tình dân tộc

Đường xưa hoa nở tỏa hương nồng

Trời xanh phất phới cờ rợp bóng

Âm vang Đại Thắng loa chuyền thông.

(Thơ Dinh Thai)

3. Kính phục một gia đình

Sắp đến ngày 30-4 con xin tạ ơn người

Mình đã từng, đọc chuyện Búp sen xanh…

Ơn tác giả, đã dành bao tâm huyết

Viết về người, làm rạng danh nước Việt

Quê Nam Đàn, gia đình Bác kính yêu!!!!

Người chị cả, thật duyên dáng bao nhiêu

Bà tên Thanh, rất nhiều chàng để ý….

Bà khéo léo, lựa nói lời từ chối !!!!

Bà chọn cho mình, một lối đi riêng……

Cụ Bội Châu, cử Bà làm giao liên….

Đã bao lần, địch bao vây rồi bắt….

Chúng tra tấn, những trận đòn quay,quắt

Kiên định một lòng Bà quyết không khai!!!!!

Những trận đòn, chỉ có một không hai

Nung mâm đỏ, chúng dí Bà ngồi xuống

Đòn tra tấn, làm thân hình biến dạng…

Được ra tù Bà sống chọn cô đơn!!!!!!

Kế tiếp Bà, là cậu thứ tên Khiêm…..

Cùng chọn lựa, con đường theo cách mạng

Rồi tù đày, địch trút lên uất hận

Chúng quyết tâm, để triệt tận giống nòi !!!!

Dù đớn đau, Cậu quyết chẳng mở lời…

Dùng thuốc độc, chúng tiêm nơi nguy hiểm?

Được ra tù, sức khỏe kia còn hiếm

Cậu sống một mình, gác chuyện riêng tư!!!!

Người em kế, tên thường gọi anh Ba

Theo anh, chị, ra tìm đường cứu nước

Bác bôn ba, đổi thay bao công việc….

Rồi cuối cùng, tìm được thuyết Lê Nin!!!!!

Dù nơi đâu, Bác giữ vững niềm tin….

Bao nhà tù, đã từng in dấu Bác…..

Hết tra tấn, chúng lại đày đói khát….

Nhưng vạn lần, Bác nhận Tống văn Sơ !!!!

*Bác Thay tên đổi họ để hoạt động cách mạng)

Ngày trong ngục, lúc rỗi Bác làm thơ

Nhật ký trong tù, ngàn thu còn nhớ

“Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”

Tác phẩm để đời, cho nhân loại về sau !!!!

Tra tấn, đọa đày, Bác chẳng hé một câu

Luật sư Anh, dựa ngày đầu bị bắt

Bác, luật sư, cả hai cùng hợp tác

Năm 1933….giải thoát Tống văn Sơ!!!!!

Ba mươi năm, sau học hỏi trở về….

Bác tập hợp….viết lên “đường cách mệnh”

Khu Việt bắc, là nơi người hoạt động

Năm 45 giải phóng ách thực dân !!!

Bác đi rồi, dù xa đến ngàn năm

Đất nước này vẫn ngàn lần ơn Bác

Sắp đến ngày đất nước mình thống nhất

Con viết ơn người và nhớ Bác khôn nguôi…..

(Thơ Lan Nguyễn Tuyết)

4. Ký ức lịch sử ngày 30-4-1975

Thời gian trôi qua, đã quá xa xôi

Những kỷ niệm xưa, còn mãi trong tôi

Trận đánh cuối cùng, đi vào lịch sử

Luôn hào hùng và bất tử trong tim…

Ngày này năm xưa, quân ta tổng tiến công

Cả miền Nam, xông lên như thác đổ

Miền Bắc sẵn sàng, của người chi viện

Cả nước đồng lòng, nước lũ tràn bờ…

Mặt trận Tây nguyên, ta đánh bất ngờ

Bè lũ Nguỵ quân, trở cờ không kịp

Tan tác hoang mang, chạy như đàn vịt

Giông bão nổi lên, xám xịt miền Trung…

Thành phố Huế – Đà Nẵng, rối loạn lung tung

Thất thủ, đầu hàng trong chớp nhoáng

Ta dồn dập tấn công, lũ Nguỵ quân chếnh choáng

Sống chết cùng đường, buông súng đầu hàng

Lá chắn Xuân Lộc, co cụm bàng hoàng

Khi quân ta đánh, khoét sâu sau lưng địch

Cửa ngõ mở toang, Sài Gòn là đích

Rạng sáng ngày mai, sẽ công kích Sài Gòn…

Ngày ba mươi tháng tư, trận chiến sống còn

Mười một giờ ba mươi, Việt Nam toàn thắng

Thành phố Bác, rực màu cờ đỏ thắm

Nếu Bác còn, người vui lắm phải không…

Hoà bình rồi, sao lòng thấy mông lung

Bao đồng đội, không hưởng chung chiến thắng

Trong niềm vui, mà sao lòng trống vắng

Đồng đội ơi, sao gọi chẳng trả lời…

Thời gian trôi qua, đã quá nửa đời

Nhưng ký ức, luôn sáng ngời kiêu hãnh

Đã có một thời, trẻ trung dũng mãnh

Vượt đau thương, để hạnh phúc hôm nay…

(Thơ Cao Hùng Cường)

5. Tết độc lập 30 tháng tư

Tết độc lập rồi, anh có biết hay không?

Em ở lại, còn anh thì đã ra đi mãi mãi

Mỗi khi buồn, vui, rồi bồi hồi nhớ lại

Buổi trưa nào đưa tiễn ở sân ga.

Miệng anh cười rất đẹp tựa như hoa

Tuổi mười bảy ra đi lòng tràn đầy nhiệt huyết

Tổ quốc gọi và lòng đã quyết

Sẽ chiến đấu hy sinh để bảo vệ nước non nhà.

Khi anh về mộ trẳng phủ đầy hoa

Em không khóc nhưng lòng đầy nước mắt

Trận đánh nào nơi anh từng có mặt

Đạn bom quân thù đã rải thảm khắp mọi nơi??

Trận chiến này thảm khốc bởi hàng vạn tấn bom rơi.

Sao có thể trở về quê hương để gặp mẹ?

Nhưng đồng đội anh vẫn còn và không có gì là không thể

Bởi giải phóng miền Nam, độc lập, tự do đã đến rồi.

Hơn bốn mươi năm trôi qua mà lòng chẳng hề nguôi

Hình ảnh của anh trên chuyến tàu năm ấy

Nụ cười đó vẫn còn nguyên như vậy

Sẽ chẳng bao giờ phai nhạt trong tim em.

(Thơ Út Nguyễn)

6. Tâm trạng 30-4

Hạ đã sang rồi mà sao vẫn như đông

Bầu trời âm u, mây mù xuống núi

Làm cho lòng người cũng thêm buồn tủi

Tâm trạng bâng khuâng, sầu với không gian

Có lẽ trời cao chia sẻ tâm can

Của người Việt Nam, hai miền thái cực

Buổi chiều vui tươi, buổi sáng buồn bực

Sáng đã mưa tuôn vì ta chưa thắng

Đến trưa ta thắng nên trời đã nắng

Niềm vui chiến thắng ba mươi tháng tư

Hai khoảng không gian chia rõ tâm tư

Sáng buồn mưa tuôn, chiều vui trời nắng

Xua tan căng thẳng, niềm vui chiến thắng

Việt Nam muôn năm, ba mươi tháng tư

Ngày vui đại thắng đi vào lịch sử

Đất trời rất hiểu tâm trạng Việt Nam

(Thơ Hoàng Thúy)

7. Vì Việt Nam – Hai Tiếng Thân Thương

Các anh đi khi Tổ quốc đang cần

Theo tiếng gọi của mùa Xuân đất nước

Dẫu vẫn biết chiến tranh là khốc liệt

Nhưng các anh vẫn kiên quyết quên mình

Dẫu biết rằng lửa đạn sẽ hy sinh

Bỏ xương máu thân mình nơi chiến tuyến

Bởi đất nước khi thân trai cần đến

Sẽ quên mình vì hai tiếng quê hương

Lửa, đạn, bom, tang tóc nơi chiến trường

Nhưng tổ quốc đã vương dòng máu Lạc…!!

Các anh đã đi theo lời của Bác

Vì non sông, vì con cháu Lạc Hồng

Vì quê nhà, vì Tổ quốc chờ trông

Các anh vẫn băng mình trong lửa đạn

Đời gian khổ quản chi ngại mưa nắng

Chỉ miễn rằng giành chiến thắng non sông

Quyết hy sinh vì dòng máu Lạc Hồng

Vì Tổ quốc, vì non sông đất nước

Vì Độc lập Tự do ta tiến bước

Đưa nước nhà lội ngược trước thời gian

Đem thân mình trải sông núi hiên ngang

Vì Quê hương, vì màu cờ dân tộc

Xóa hận thù, nối hai miền Tổ Quốc

Việt Nam ơi…! Hết tang tóc từ đây!

Đất Mẹ ơi…!! Con mong ngóng từng ngày…!!!

(Thơ Hoàng Thúy)

8. Bài thơ 30/4 và 1/5 số 8

Hôm nay lể 30/4 – 1/5…

Em xa lạ sao thấy quá thân quen…

Cứ như thể có duyên từ kiếp trước…

Quá vội vàng anh chưa hiểu tình em…

Từ đáy lòng anh chỉ biết yêu em..

Rất có thể anh phải xa em mãi…

Suốt đời này anh chúc phút cho em..

Anh viết tặng em bài thơ tình cuối…

(Thơ Kim Hy)

https://thuthuat.taimienphi.vn/tho-30-4-va-1-5-hay-46485n.aspx Ngoài những bài thơ 30/4 và 1/5 hay ở trên làm lời chúc, bạn có thể gửi đến người thân yêu của mình lời chúc 30/4 và 1/5 giúp mọi người có kỳ nghỉ lễ vui vẻ, hạnh phúc, trọn vẹn bên người thân yêu.

Cập nhật thông tin chi tiết về Câu Hỏi “Có Cần Giải Phóng Miền Nam Hay Không” Và Một Ngàn Cái Like Ngốc Nghếch trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!