Xu Hướng 2/2024 # “Đánh Tư Sản” Ở Miền Nam Sau 1975 # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết “Đánh Tư Sản” Ở Miền Nam Sau 1975 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tú Hoa

I. ĐÁNH TƯ SẢN

ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội thực hiện đối với người dân miền Nam Việt Nam theo Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam 

Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN đối với người dân miền Nam được Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.

Đợt  X1 được bắt đầu vào sáng ngày 11 tháng Chín năm 1975 xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Đợt X1 này tập trung vào những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh, sanh sống thanh công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm.

Đợt X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978 và được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.

Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ sài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẫm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẫm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa.

Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận là đã có trên 10000 tiệm bán bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản và cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí vốn đã từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Chu Trinh cho dân tộc

Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị  vào tháng Năm năm 1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đát đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất” dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.

Tình trạng ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn dù không ồn ào bằng.

Tổng số lúa mà nông dân miền Nam bị chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978 trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.

Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân miền Nam trước những đợt thu lúa từ năm 1977 trở đi.

Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3 đặc biệt tập trung tại Sài Gòn. Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.

Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo TW Vào ngày 16 tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp đợt thực hiện này.

Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại. Cuối đợt X3 , ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!

Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đổ Mười trực tiếp chỉ huy. Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.

Riêng về tổng số vàng, nữ trang tịch tư từ tư bản ở miền Nam được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng- nhưng đây chỉ là con số tượng trưng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm năm 1977 qua tháng Hai năm 1978 mà thôi. Cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương thu trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN ở miền Nam.

Xin được ghi chú thêm là chỉ nội vụ Hà Nội tiến hành cho phép người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức nếu đóng khoảng 120 lượng vàng đã góp vào gần 10 ngàn lượng vàng tổng cộng.

Trung bình , mổi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị , đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975 nhưng đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.

II. KINH TẾ MỚI:

Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Sản Hà Nội tịch thu nhà , tài sản điều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.

Chỉ tiêu đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại cho Hà Nội quản lý. Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ- ĐÁNH TƯ SẢN như sau:

THỜI KỲ

CHỈ TIÊU

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

GHI CHÚ

1976- 1979

4 triệu người

1,5 triệu người

95% là từ Sài Gòn

1979-1984

1 triệu người

1,3 triệu người

50% là từ Sài Gòn

Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:

– 30% trả thuế

– 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;

– 15% trả lương cho cán bộ quản lý ;

– 30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động

Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị Đảng tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới.

Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.

Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh.

Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.

III. Quyết Định 111/CP của Hà Nội về việc “Đánh tư sản ” ở miền Nam Việt Nam

Quyết định 111/CP của Hà Nội là một tài liệu chứng quan trọng. Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.

Xem Nguyên văn quyết định 111/CP:

Trích : 

IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG

1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.

2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:

– Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên. – Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên. – Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên. – Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.

Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.

Không khí hoảng sợ , đau thuơng oán hận lan tràn khắp cả miền Nam.

IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Hà Nội:

Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.

Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU mà chỉ có quyền SỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Hà Nội.

Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.

Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam.Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.

Sang đến năm 1989, báo SGGP từ Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)

Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.

Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi.

Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt triệu người dân miền Nam về hành động này.

Nguồn bài đăng

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Chuyện “Tử Thủ” Sau Thời Khắc Lịch Sử 30/4/1975 Tại Miền Tây Nam Bộ

Trung tướng Đinh Văn Cai – Chính ủy Quân khu 9, cho biết, hơn 40 năm trước, Mỹ Tho là trọng điểm của QK8 (nay thuộc QK9). Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Đội biệt động TP và cơ sở mật phát động quần chúng nổi dậy. Song, đến 16 giờ cùng ngày, cờ giải phóng mới phất phới tại Trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu. Lực lượng chủ lực QK và bộ đội tỉnh tiếp tục tiến công các mục tiêu mà địch ngoan cố chống cự. Đến 24 giờ cùng ngày, Dinh tỉnh trưởng bị ta đánh chiếm. Và đến 5 giờ sáng 1/5/1975, Mỹ Tho hoàn toàn giải phóng.

Đối với Cần Thơ – nơi được xem là “thủ đô thứ hai” sau Sài Gòn, Thiếu tướng Hà Nghĩa Lộ – nguyên Giám đốc Công an TP Cần Thơ cho biết, theo phương án Gavin của Mỹ – ngụy, nếu Sài Gòn thất thủ thì khu vực cuối cùng phải án giữ là vùng Tây Nam Bộ, lấy Cần Thơ làm trung tâm. Ngày 28/4/1975, bọn tướng tá, nhân viên cao cấp của Mỹ – ngụy tại Tòa lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ, hoang mang cực độ, kéo nhau xuống tàu hải quân chạy ra biển, trong số này có Đại tá Huỳnh Ngọc Diệp – Tỉnh trưởng. Trung tướng Nguyễn Khoa Nam – Tư lệnh Quân đoàn 4 và vùng IV chiến thuật, chỉ định Đại tá Trần Cửu Thiên lên nắm quyền Tỉnh trưởng, kiêm Thị trưởng TP Cần Thơ. Tướng Nam ra lệnh tử thủ, ban hành lệnh giới nghiêm 24/24 toàn TP, đồng thời gấp rút điều lực lượng (gồm 4 trung đoàn chủ lực, 1 trung đoàn bảo an, 2 thiết đoàn xe thiết giáp M113) về giữ tuyến Lộ Vòng Cung, chống trả quyết liệt các cánh quân của ta, nhằm bảo vệ cơ quan đầu não.

Về phía ta, lúc 15 giờ ngày 30/4/1975, ngay sau khi chiếm được Đài phát thanh, đã phát đi bản tuyên bố của chính quyền Cách mạng. 18h30 cùng ngày, lực lượng An ninh TP chiếm lĩnh Ty cảnh sát Phong Dinh và Bộ tổng tham mưu vùng IV chiến thuật, tước vũ khí bắt tại chỗ trên 100 tên cảnh sát…. Song, tướng Nam vẫn ngoan cố. Khi kiểm tra kế hoạch “tử thủ”, ông ta mới biết trợ lý thân cận nhất trước khi cùng vợ con “hớt tay trên” bằng việc lên chiếc máy bay trực thăng dành riêng cho tư lệnh để bay ra Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi, tháo chạy, đã vứt kế hoạch tử thủ đó vào sọt rác, không triển khai đi các nơi. Tướng Nam thực sự bị “sốc” và hoang mang tột độ.

Nhân dân Mỹ Tho nổi dậy giành chính quyền.

Ba ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, đài BBC loan tin cả 2 viên tướng Tư lệnh Vùng IV đều đã… tự sát. Chuẩn tướng, Tư lệnh phó Lê Văn Hưng đã tự sát trước mặt vợ con và nhiều thuộc cấp chiều tối 30/4/1975. Còn tướng Nam “tự sát”, BBC dẫn từ một cấp dưới của ông ta xác định điều này. Sau đó, trong hồi ký của trung úy chính quyền Sài Gòn Lê Văn Danh – một trong những thuộc cấp có mặt bên “chủ tướng” Nam vào đêm 30/4/1975, đã tả lại khá tỉ mỉ khoảnh khắc tướng Nam tự sát. Đến sáng sớm 1/5/1975, khi trinh sát của ta vào thì được biết, tướng Nam đã tự sát bằng khẩu K45.

Tại Chương Thiện (nay là Hậu Giang), Tỉnh trưởng Hồ Ngọc Cẩn và Trung tá, Trưởng ty cảnh sát Võ Văn Đường vẫn quyết “tử thủ”. Đến 5 giờ sáng 1/5/1975, các trinh sát An ninh ta đã mưu trí bắt sống tên Đường, nhiều sĩ quan phụ tá đặc biệt và 289 tên cảnh sát; tiến hành đánh chiếm Tòa hành chính, bắt sống được tên Cẩn.

Nhân dân Rạch Giá (Kiên Giang) chào đón quân giải phóng. Ảnh Tư liệu .

Tại Cà Mau, tên Đại tá, Tỉnh trưởng An Xuyên là Nhan Nhựt Chương chấp nhận đầu hàng ta lúc 18 giờ ngày 30/4/1975 nhưng tìm cách trì hoãn để chạy trốn. Lúc đó, bọn địch tại Chi khu Đầm Dơi do tên Thiếu tá quận trưởng Huỳnh Tuý Viên (33 tuổi) cầm đầu, thay vì đầu hàng tại chỗ, chúng lại mở đường máu bán sống bán chết kéo hết quân về Cà Mau… Với bản chất ngoan cố, tàn bạo, trong lúc tháo chạy vào đêm 30/4/1975, bọn Viên đã bắt mấy chục người dân đi trước dẫn đường làm “bia thịt” cho chúng. Khi tới Hoà Thành, bọn chúng đã nổ súng khiến 2 chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn U Minh 3 của ta, hy sinh. Chúng đã bắt sống 2 cán bộ của ta dẫn ra tới lộ 4 (nay là QL1) và tên Viên đã trốn thoát (sau đó đã bị ta truy bắt, tuyên xử tử hình). Cả tiểu đoàn địch như rắn mất đầu, và bị ta bắt hết vào sáng 1/5/1975.

Tại tỉnh Long Châu Tiền (gồm một số huyện của Đồng Tháp và An Giang ngày nay), Tiểu khu trưởng Sa Đéc, Tiểu khu trưởng Châu Đốc và một số sỹ quan Việt Nam Cộng hòa đã tập hợp trên 10.000 lính bảo an từ các nơi dồn về Tổ Đình ở xã Hòa Hảo, huyện Phú Tân tuyên bố “tử thủ”. Trong hai ngày 1 và 2/5/1975, chúng ra thông báo đòi lập “khu tự trị” ở Long Xuyên và Châu Đốc; sau đó, tại huyện Phú Tân. Đến Thông báo thứ 5, chúng đòi giữ một trung đội bảo an để bảo vệ Tổ Đình. Đêm 2/5, lực lượng ta đến Tổ Đình, phát động quần chúng nổi dậy cùng LLVT vây ép và sẵn sàng tiêu diệt các tiểu đoàn bảo an ngoan cố, hỗ trợ quần chúng tín đồ trực tiếp đấu tranh với TW Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, buộc chúng phải đầu hàng vô điều kiện. Cuối cùng chúng phải ra Thông báo số 6 kêu gọi binh sĩ nộp vũ khí, trình diện Cách mạng.

7 giờ ngày 3/5, lực lượng ta vào Tổ Đình, tiếp nhận bàn giao vũ khí của hơn 8.000 lính bảo an. Trước sự chứng kiến của quần chúng, ta tổ chức khui 6 hầm vũ khí chôn giấu trong trụ sở Giáo hội.

Sau khi Tổ Đình được giải phóng, một số tàn quân của bảo an tiếp tục co cụm về Chợ Mới, tập trung tại chùa Tây An, coi đây là nơi tử thủ cuối cùng. Tỉnh Sa Đéc điều lực lượng đến và phát động quần chúng bao vây, tiến công làm tan rã đám tàn quân ở chùa Tây An. Ngày 6/5/1975, cờ giải phóng tung bay trên chùa Tây An, mảnh đất cuối cùng của miền Tây Nam bộ được hoàn toàn giải phóng.

Xét Nghiệm Đánh Giá Khả Năng Sinh Sản Của Nam Giới

Quan sát tinh trùng dưới kính hiển vi

1. Đại cương

Vô sinh (infertility) được định nghĩa là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống, quan hệ tình dục trung bình 2-3 lần/tuần, không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà người vợ vẫn chưa có thai.

Một trong các xét nghiệm đầu tiên của nam giới khi đến khám hiếm muộn vô sinh là thử tinh trùng, còn gọi là tinh dịch đồ.

Tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị kết quả khảo sát chất lượng tinh trùng nam giới tại tỉnh  Quảng Trị trên 350  cặp vợ chồng đến khám hiếm muộn, có đến 91,4% trường hợp có bất thường tinh trùng. Trong đó bất thường về hình dạng tinh trùng chiếm 63,11% (theo tiêu chuẩn WHO 2010). Theo một khảo sát năm 2024 do khoa Y, Đại học Quốc gia TPHCM thực hiện có tới 85,44% các cặp vợ chồng khám hiếm muộn có bất thường về tinh trùng.

2. Tinh dịch đồ là gì?

Tinh dịch đồ (hay phân tích tinh dịch) là một xét nghiệm tinh dịch tươi vừa được xuất tinh, thường được thu thập bằng cách tự kích thích bằng tay (thủ dâm). Nó là một phần thiết yếu, đơn giản của các xét nghiệm dành cho nam giới.

Một kiểm tra phân tích tinh dịch có tinh trùng đang hiện diện và giúp xác định nếu có một vấn đề với số lượng hoặc chất lượng của tinh trùng. Số lượng, hình dạng và chuyển động của tinh trùng được đo đạc dưới kính hiển vi.

3. Phân tích mẫu tinh dịch 3.1. Phân tích kết quả 3.1.1. Khảo sát đại thể

Sự ly giải (Liquefaction): tinh dịch sau khi phóng tinh sẽ tự hóa lỏng ở nhiệt độ 37 C gọi là sự ly giải (còn gọi là sự hóa lỏng), chủ yếu do các men Fibrinolysin và Aminopeptidase của tiền liệt tuyến. Bình thường thời gian ly giải là 15-60 phút. Thời gian ly giải lâu thường do viêm tiền liệt tuyến.

Độ nhớt (Viscosity): Còn gọi là độ quánh, đánh giá bằng cách quan sát sự kéo dài của giọt tinh dịch được nhỏ bằng pipette. Bình thường khi giọt tinh dịch nhỏ rời rạc hoặc không bị kéo dài quá 2cm. Độ nhớt cao thường do bất thường những thành phần trong tinh dịch.

Tính chất tổng quát: Tinh dịch sau ly giải có tính đồng nhất, màu trắng hoặc xám đục. Nếu màu vàng có thể do dùng một số loại vitamin, do lẫn nước tiểu hoặc nhiễm trùng. Màu hồng hoặc đỏ có thể do lẫn máu. Màu trắng trong có thể do tinh trùng ít. Tinh dịch lợn cợn có thể do viêm nhiễn đường tiết niệu.

Thể tích: Được tính bằng ml, có thể ước lượng chính xác bằng cách tính trọng lượng của mẫu tinh dịch. Bình thường thể tích tinh dịch ≥ 1,5ml. Thể tích tinh dịch thấp có thể do tắc ống phóng tinh, bất sản túi tinh, xuất tinh ngược dòng.

pH: Bình thường ≥ 7,2. pH thay đổi tùy thuộc vào dịch tiết tính acid của tiền liệt tuyến và dịch tiết tính kiềm của túi tinh. pH dưới 7 thường gặp trong bất sản túi tinh hoặc tắc ống phóng tinh. 

3.1.2 Khảo sát dưới kính hiển vi

Đánh giá tổng quát: Đánh giá khởi đầu bằng độ phóng đại 100 (10X) xem sự phân tán của tinh trùng, ghi nhận sự kết dính (agglutination: thường do nguyên nhân miễn dịch, các tinh trùng có thể kết dính dạng đầu-đầu, đuôi-đuôi hoặc hỗn hợp); sự kết đám (aggregation: thường do nhiễm trùng, các tinh trùng sống, tinh trùng chết cùng các tế bào hoặc cặn tụ lại với nhau); và ghi nhận các tế bào lạ như bạch cầu, tế bào biểu mô.

Đánh giá tinh trùng di động: Khảo sát sự di động tự nhiên của tinh trùng. WHO 2010 đưa ra tiêu chuẩn đánh giá sự di động của tinh trùng gồm 3 loại: + Di động PR (Progressive motility): tinh trùng di động tiến tới + Di động NP (Non- progressive motility): tinh trùng di động nhưng không tiến tới + Không di động (IM: Immotile )

Đánh giá tỉ lệ sống của tinh trùng: Nhuộm tinh trùng bằng phương pháp eosin-nigrosin để xác định tỉ lệ tinh trùng sống. Dưới tiêu bản kính hiển vi, tinh trùng chết sẽ có màu hồng do bắt màu thuốc nhuộm, tinh trùng sống sẽ có màu trắng do không bắt màu.

Đánh giá mật độ tinh trùng: Để đếm mật độ tinh trùng, cần pha loãng tinh dịch với dung dịch pha loãng và đếm bằng buồng đếm Neubauer.

Đánh giá hình dạng tinh trùng: Hình dạng tinh trùng cung cấp thông tin quan trọng giúp dự đoán tỉ lệ thụ thai nếu được đánh giá theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt (Strict Criteria). Tinh trùng được nhuộm theo phương pháp Papanicolaou. Tinh trùng bình thường bao gồm đầu, cổ, phần giữa và đuôi đều bình thường.

4. Ngưỡng tham khảo của tinh dịch đồ theo WHO 2010

 Nhằm xác định ngưỡng tham khảo của tinh dịch đồ, nghiên cứu năm 2010 của WHO với 32 nhóm nghiên cứu thuộc 14 nước của 4 châu lục (Âu, Úc, Á, Mỹ) với 4500 người nam đã đưa ra bảng giá trị tối thiểu của tinh dịch đồ bình thường. Hiện nay hầu hết trung tâm trên toàn thế giới áp dụng theo tiêu chuẩn của WHO (2010).

5. Một số thuật ngữ chẩn đoán 

Aspermia: Không có tinh dịch 

Azoospermia: Không có tinh trùng trong tinh dịch 

Oligospermia: Thể tích xuất tinh thấp ( thể tích tinh dịch <1,5 ml) 

Oligozoospermia: Mật độ tinh trùng ít (mật độ tinh trùng <15 triệu/ml)

 Asthenozoospermia: Tinh trùng yếu (di động PR<32%) 

Teratozoospermia: Tinh trùng dị dạng 

Oligo-astheno-teratozoospermia: Tinh trùng ít, yếu, dị dạng 

Hematospermia: Tinh dịch có máu (có hồng cầu trong tinh dịch).

Nếu kết quả xét nghiệm tinh dịch đồ bình thường thì có thể yên tâm. Nếu kết quả có bất thường, xét nghiệm sẽ cần phải được lặp đi lặp lại 2-3 lần trong 2-3 tháng để xác nhận việc bất thường này có liên tục hay không.

Cần chú ý thêm rằng tinh dịch đồ của một người bình thường có thể có kết quả một kết quả bất thường trong khoảng thời gian xét nghiệm khác nhau, do đó, chỉ một xét nghiệm tinh dịch duy nhất có ý nghĩa rất ít. Do có sự biến động tự nhiên về số lượng và chất lượng tinh trùng, nhiều bác sĩ yêu cầu kiểm tra hai hoặc ba mẫu trong khoảng 1-3 tuần.

Việc đo lường tất cả các phần của mẫu tinh dịch cho bác sĩ một số gợi ý về mức độ khả năng sinh sản. Kết quả lượng tinh trùng thấp không phải đồng nghĩa là không có cơ hội thụ thai. Một số người có số lượng tinh trùng thấp nhưng với khả năng chuyển động và hình dạng tinh trùng bình thường vẫn có thể thụ thai.

Đơn vị hỗ trợ sinh sản bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Quảng Trị được trang bị phòng lab hiện đại. Quý bệnh nhân có thể đến

thăm khám và hướng dẫn cụ thể về xét nghiệm tinh dịch đồ cũng như các vấn đề hiếm muộn.

Tài liệu tham khảo

1. Hồ Mạnh Tường, Vương Thị Ngọc Lan, Đặng Quang Vinh, Nguyễn Thị Mai, Lê Thụy Hồng Khả, Trương Thị Thanh Bình. Thụ tinh trong ống nghiệm, NXB Y học, tr 41-58, tr 123-189

2. World Health Organization (1999). Laboratory manual for the examination of human semen and sperm- cervical mucus interaction. Cambridge: Cambridge University Press.

3. World Health Organization (2010). Laboratory manual for the examination and processing of human semen. Cambridge: Cambridge University Press

4. Pacey A (2006). Is quality assurance in semen analysis still really necessary? A view from the andrology laboratory. Hum Reprod 21:1105-1109.

5. SperooffL, Fritz M (2005). Male infertility. In: Speroff L, Fritz M , eds. Clinical Gynecologic Endocrinology and infertility. Lippincott Williams and Wilkins; 1135-74.

6. Cooper T, Noonan E, Eckardstein S, Auger J, Baker G, Behre H, Haugen T, Kruger T, Wang C, MbizvoM, Vogelsong K (2010). World Health Organization reference values for human semen characteristics. Human Reprod Update 16:231-45.

7. Gao J, Gao ES, Yang Q, Walker M, Wu JQ, Zhou WJ, Wen SW (2007). Semen quality in a residential, geographic and age representative sample of health Chinese men. Hum Repord 22:477-103.

45 Năm Giải Phóng Miền Nam: Trận Đánh Vào Đài Ra

(CATP) Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Bộ đội Đặc công được giao nhiều trọng trách: đánh chiếm và giữ 14 cây cầu cùng 6 căn cứ án ngữ cửa ngõ Sài Gòn của địch, tấn công vào cảng Nhà Bè, chia cắt sông Lòng Tàu, phối hợp với Sư đoàn 3 tiến công Vũng Tàu; tiến hành mở và bảo vệ cửa mở ở phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất, đón chủ lực vào đánh chiếm sân bay…, tạo thuận lợi và bảo đảm đường cơ động cho các cánh quân thần tốc tiến vào, tấn công chiếm giữ một số mục tiêu quan trọng trong nội đô, hỗ trợ quần chúng nổi dậy… làm chủ một số khu vực.

Ngoài tham gia tiến đánh một số mục tiêu quan trọng, đặc biệt Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công – Trung đoàn Đặc công 429 được lệnh phối hợp với Tiểu đoàn 13 cùng Trung đoàn và Tiểu đoàn Biệt động 197 tấn công, phá hủy, làm tê liệt hoạt động của Căn cứ ra – đa Phú Lâm ở ngoại ô Sài Gòn. Trận đánh ác liệt cứ ngỡ như mới hôm nào…

Từ lễ truy điệu sống…

Sau nhiều lần trinh sát nắm tình hình, đêm 17-4-1975, Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công cùng Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn Biệt động 197 chia thành 2 mũi tấn công Căn cứ ra – đa Phú Lâm. Để tiếp cận mục tiêu này, lực lượng Đặc công – Biệt động của ta phải tìm cách vượt nhiều lớp hàng rào dây thép gai, trên các lớp rào có cài nhiều mìn vướng nổ. Địch tổ chức canh gác cẩn mật quanh khu vực này suốt ngày đêm; muốn vào được căn cứ phải băng qua một cánh đồng rộng, trống trải, đầy bom mìn.

Đồng chí Trương Văn Hồng – cựu Tiểu đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công – nhớ lại: “Trong trận đánh vào Căn cứ ra – đa Phú Lâm, tôi được giao chỉ huy Đại đội 2 – Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đặc công do đồng chí Dương Văn Sê (quê Thái Nguyên) làm đại đội trưởng tiến đánh. Được bộ đội địa phương dẫn đường, rạng sáng 18-4-1975, hướng tấn công của Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công cùng Tiểu đoàn Biệt động 197 tiến vào vị trí triển khai, tiến hành nổ súng. Mũi tấn công của 2 lực lượng đột nhập vào trong, phá hủy một số trang thiết bị quan trọng của địch. Ở một số hướng khác, do địch chống trả quyết liệt, các chiến sĩ chưa vào sâu bên trong nhưng cũng phá hủy nhiều thiết bị ăng – ten, máy phát sóng của địch… làm tê liệt hoạt động của chúng”.

Những người trực tiếp tham gia trận đánh kể: Trước khi bước vào trận chiến quyết định này, 20 cán bộ chiến sĩ (CBCS) đảm nhận vai trò tiên phong mở cửa được đơn vị làm lễ truy điệu sống. Bên cạnh thông tin trinh sát báo về, đơn vị chỉ có tấm bản đồ cũ vẽ bằng bút bi từ năm 1967 về hình thái chung của căn cứ ra – đa này. Bộ đội Đặc công đã lấy đèn tín hiệu trên cột thu phát sóng làm chuẩn để tiến công.

“Lúc mở cửa, quả bộc phá 5kg đầu tiên điểm hỏa không nổ, phải đến quả 5kg thứ hai đặt chồng lên mới tạo sức công phá cộng hưởng cực mạnh, phá bung cánh cửa sắt và một phần bức tường hai bên. Khi đó, những cánh ra – đa lớn đã hiện ra trước mắt, nhưng chúng tôi không thể tiếp cận ngay được vì vướng hào nước kết hợp hàng rào dây thép gai của địch. Các chiến sĩ của ta đã sử dụng hỏa lực B41, B40 nhắm thẳng mục tiêu ra – đa nhả đạn, mở toang cửa cho đồng đội xung phong tiêu diệt địch, làm chủ hoàn toàn căn cứ”, cựu Tiểu đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công Trương Văn Hồng nhớ lại.

… Đến ngày trở về chiến thắng

Theo cựu Chính trị viên Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công Hoàng Văn Thượng, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bí mật từ Long An lên Sài Gòn đánh vào Trung tâm thông tin Phú Lâm (Đài ra – đa Phú Lâm) ở quận 6 nhằm cắt đứt liên lạc, làm tê liệt quân địch. Đây là trung tâm thông tin lớn nhất, hiện đại nhất châu Á lúc bấy giờ, với gần 800 nhân viên quân sự hoạt động. Nhiệm vụ được giao rất khó khăn, nhất là phải đưa cả Tiểu đoàn hơn 100 người vào giữa Sài Gòn khi quân địch đang kiểm soát gắt gao. Rút kinh nghiệm lần đánh vào Căn cứ ra – đa Phú Lâm đêm 17 rạng sáng 18-4-1975, tối 28-4-1975 Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công đã áp sát mục tiêu, đang cắt hàng rào dây thép gai thì bị địch phát hiện, nã súng như mưa xuống hào làm 7 chiến sĩ hy sinh.

Trong tình thế nguy cấp, quân ta buộc phải gọi lực lượng chi viện nã pháo vào trong, nhưng căn cứ của địch quá kiên cố, đánh suốt 1 ngày đêm vẫn chưa chiếm được. Đến 9 giờ sáng 30-4-1975, Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công họp bàn, đưa ra quyết định táo bạo: tổ chức nhóm 20 chiến sĩ đánh thẳng vào cổng chính. Tiểu đoàn phó Trương Văn Hồng cùng 2 chiến sĩ là Trịnh Viết Ngọ, Khuất Duy Tiến (đều quê Hà Tây, nay là Hà Nội) xông thẳng vào sở chỉ huy địch, bắt sống tên trung tá, chỉ huy Đài ra – đa Phú Lâm. Đồng chí Trương Văn Hồng yêu cầu viên chỉ huy Đài ra – đa Phú Lâm lệnh cho các đơn vị địch ngừng nã pháo. Quân giải phóng chiếm toàn bộ Trung tâm thông tin ra – đa Phú Lâm. Vừa lúc đó, trên Đài phát thanh thông báo tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng vô điều kiện…

Đã 45 năm trôi qua nhưng những người lính Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công từng tham gia trận đánh vào Trung tâm thông tin ra – đa Phú Lâm vẫn không thể quên ký ức một thời oanh liệt ấy. Và khi tôi viết những dòng này, các đồng đội Trương Văn Hồng, Dương Văn Sê, Khuất Duy Tiến, Trịnh Viết Ngọ… vẫn tiếp tục thực hiện những chuyến về thăm chiến trường xưa, thắp nén hương tưởng nhớ đồng đội đã ngã xuống trong những chiến hào ngập khói, tham gia truy tìm hài cốt đồng đội và giúp đỡ thân nhân các cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn… trọn vẹn nghĩa cử tri ân, sắt son tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng của những người lính Bộ đội Đặc công Anh hùng.

Kỷ Niệm 44 Năm Ngày Giải Phóng Miền Nam: Đại Thắng Mùa Xuân 1975

Nhân dịp kỉ niệm 44 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2024), Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) xin trân trọng giới thiệu bài viết “Đại thắng mùa Xuân 1975 – Nghệ thuật kết thúc chiến tranh độc đáo, sáng tạo” của Đại tá Trần Tiến Hoạt-nguyên Phó Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ-Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Chỉ đạo chiến lược kiên quyết, sắc bén, linh hoạt

Do chịu thất bại nặng nề trên chiến trường và phong trào phải đối chiến tranh dâng cao cả trong và ngoài nước, tháng 1/1973, Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút quân về nước. Nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, Mỹ tiếp tục viện trợ kinh tế, quân sự chỉ đạo chính quyền, quân đội Sài Gòn phá hoại Hiệp định vừa ký kết, mở hàng ngàn cuộc hành quân “bình định, lấn chiếm”, các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam. Chính phủ Mỹ còn thi hành chính sách ngoại giao xảo quyệt, thỏa thuận với các nước lớn xã hội chủ nghĩa cắt giảm viện trợ, gây áp lực hạn chế thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước âm mưu và hành động chiến tranh mới của địch, cách mạng miền Nam gặp những khó khăn, tổn thất nhất định. Nhiều địa phương tỏ ra lúng túng, nhấn mạnh đến hòa bình, hòa hợp, buông lỏng tư tưởng chiến lược tiến công nên trên một số địa bàn bị mất đất, mất dân. Chỉ tính riêng trong năm 1973, địch đóng thêm 500 đồn bốt, chiếm thêm 70 xã và gần 1.000 ấp, kiểm soát thêm 65 vạn dân…

Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường, nồng nhiệt chào đón Quân giải phóng tiến vào thành phố. Ảnh: Hứa Kiểm -TTXVN

Nắm bắt tình hình trên, tháng 7/1973, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 nhấn mạnh: Bất kể trong tình huống nào, con đường giành thắng lợi của cách mạng cũng là sử dụng bạo lực cách mạng, do đó phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao để giành toàn thắng. Thực hiện nghị quyết của Đảng đề ra, quân dân ta trên chiến trường đã kiên quyết mở những cuộc phản công, tiến công trực tiếp giáng trả mọi hành động chiến tranh, tiêu hao, tiêu diệt một phần sinh lực địch, đánh bại cơ bản kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của chúng, bảo vệ, mở rộng vùng giải phóng, tạo ra thế và lực mới cho kháng chiến. Đặc biệt, ta giành thắng lợi lớn trong chiến dịch Đường 14 – Phước Long (từ ngày 13/12/1974 đến ngày 6/1/1975) loại khỏi vòng chiến đấu trên 4.000 địch, giải phóng toàn tỉnh Phước Long (Đông Nam Bộ) với trên 50.000 dân. Chiến thắng này cho thấy khả năng chiến đấu của quân chủ lực ta đã hơn hẳn quân chủ lực của địch, đồng thời cho thấy khả năng phản ứng rất hạn chế của Mỹ, tạo thêm cơ sở cho cơ quan chỉ đạo chiến lược cách mạng hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Cuối năm 1974, đầu năm 1975, so sánh lực lượng ở miền Nam có sự chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng, trên cơ sở đó, Hội nghị Bộ Chính trị (từ 30/9 đến 7/10/1974) và Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (từ 18/12/1974 đến 8/1/1975) đã ra nghị quyết lịch sử, hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước trong thời gian 2 năm (1975 – 1976). Theo kế hoạch đề ra, trong năm 1975, cách mạng sẽ tranh thủ thời cơ bất ngờ tiến công địch trên quy mô lớn, rộng khắp, tạo tiền đề để trong năm 1976 tiến hành tổng công kích-tổng khởi nghĩa giành toàn thắng. Tuy đề ra kế hoạch 2 năm, nhưng Bộ Chính trị cũng chỉ rõ: Nếu thời cơ đến sớm thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Về phương hướng, yêu cầu đặt ra, Bộ Chính trị nhấn mạnh: cần tranh thủ thời cơ thực hiện tổng công kích-tổng khởi nghĩa, phải đánh thắng nhanh để giảm thiệt hại về người và của cho nhân dân, đồng thời giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.

Đây thực sự là một sáng tạo lớn trong nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh, thể hiện tầm cao trí tuệ, tư tưởng và truyền thống nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt Nam, điều đó vượt lên trên mọi toan tính của các nhà hoạch định chính sách phía Mỹ, đồng thời đập tan những luận điệu xuyên tạc về “các cuộc tắm máu” mà các thế lực thù địch, phản động ở trong và ngoài nước rêu rao. Trên thực tế khi bước vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, nắm bắt kịp thời những diễn biến của chiến trường, Bộ Chính trị không ngừng bổ sung quyết tâm chiến lược, quyết định rút ngắn thời gian: giải phóng hoàn miền Nam ngay trong năm 1975 (cuộc họp ngày 18/3/1975), giải phóng hoàn miền Nam trước mùa mưa năm 1975 (cuộc họp ngày 25/3/1975), giải phóng hoàn miền Nam trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là ngay trong tháng 4 năm 1975 (cuộc họp ngày 1/4/1975).

Thực hành tổng tiến công và nổi dậy toàn diện, triệt để, nhanh gọn

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân dân Việt Nam bắt đầu từ ngày 4/3/1975 và kết thúc vào ngày 30/4/1975, trong đó tiến công quân sự đóng vai trò quyết định với ba chiến dịch chiến lược liên tục về thời gian và liên kết về không gian đi đến đánh sập quân đội Sài Gòn. Mỗi chiến dịch chiến lược lại có cách thức tổ chức thực hiện độc đáo, sáng tạo khác nhau.

Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4/3 đến ngày 3/4/1975) là đòn giáng mở đầu Tổng tiến công và nổi dậy nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng các tỉnh nam Tây Nguyên, mở rộng hành lang nối liền Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ và đồng bằng Khu 5, thực hiện chia cắt chiến lược, tạo cục diện mới cho chiến trường. Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên xác định trận tiến công Thị xã Buôn Ma Thuột là trận then chốt. Lực lượng cách mạng hoàn toàn áp đảo. Ta sử dụng cách đánh mới: tổ chức các mũi đột kích binh chủng hợp thành kết hợp với các đơn vị đặc công và bộ binh bí mật triển khai trước đánh thẳng vào trung tâm thị xã, nhanh chóng tiêu diệt cơ quan chỉ huy đầu não địch rồi mới phát triển trở ra bên ngoài thị xã. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, tiếng súng đánh chiếm Buôn Ma Thuột bắt đầu. Đại bộ phận các đơn vị bộ binh cơ giới, xe tăng thọc sâu tại các vị trí chờ đợi từ xa trên các hướng, các trục đường khác nhau theo lệnh vượt qua các tuyến vòng ngoài ào ạt đánh chiếm những mục tiêu chủ yếu trong thị xã. Có những đơn vị phải vượt qua chặng đường dài 30-40 km nhưng vẫn bảo đảm thời gian hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đòn tiến công đã làm cho Mỹ, chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bị bất ngờ, choáng váng. Mọi sự kháng cự và ứng cứu của địch đều bị đập tan. Đến trưa ngày 11 tháng 3, quân ta hoàn toàn làm chủ thị xã. Việc đánh chiếm giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột trong hơn một ngày đêm là một trong những chiến công vang dội của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trực tiếp mở ra thắng lợi của toàn chiến dịch Tây Nguyên nói riêng, toàn bộ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói chung.

Tiếp theo là đòn tiến công giải phóng Huế – Đà Nẵng (26/3 đến 29/3/1975). Sau khi mất Tây Nguyên, chính quyền và quân đội Sài Gòn rơi vào tình trạng hoang mang, rối loạn. Địch tập trung quân về giữ thành phố Huế và khu liên hợp quân sự Đà Nẵng, chờ đợi viện binh từ phía Nam ra phản công. Nhạy bén tranh thủ thời cơ, ta nhanh chóng mở cuộc tiến công trong hành tiến giải phóng Huế (26/3), sau đó phát triển thành chiến dịch tiến công quy mô lớn bằng thế hợp vây của ba cánh quan từ ba hướng Bắc, Tây, Nam đánh vào Đà Nẵng, phá tan thế co cụm, diệt và làm tan rã 10 vạn địch, làm thay đổi hẳn tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường.

Đánh chiếm Dinh Độc Lập. Ảnh: Mai Hưởng – TTXVN

Đến những ngày cuối tháng 4 năm 1975, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam dồn sức cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng: Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định 5 mục tiêu quan trọng nhất cần đánh chiếm bằng được: Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc lập, Biệt khu thủ đô, Tổng nha cảnh sát, sân bay Tân Sơn Nhất. Về mặt lực lượng, quân ta vẫn chiếm ưu thế áp đảo. Nhưng đánh bằng cách nào có hiệu lực nhất, để vừa phát huy hết sức mạnh của tất cả lực lượng, giành thắng lợi nhanh nhất, vừa giảm thiểu được sự tàn phá của chiến tranh (giữ được Sài Gòn hầu như nguyên vẹn) là vấn đề đặt ra cấp thiết. Lúc này, trong nội thành Sài Gòn, địch tổ chức phòng thủ thành 5 liên khu do toàn bộ lực lượng cảnh sát, phòng vệ dân sự phụ trách. Ở vòng ngoài, chúng bố trí các sư đoàn chủ lực mạnh muốn ngăn chặn quân ta từ xa 30-50km, đề phòng khi bị tiến công, chúng sẽ từng bước lùi dần và co cụm về Sài Gòn “tử thủ”. Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng cách đánh hết sức linh hoạt, sáng tạo, đó là dùng một bộ phận lực lượng thích hợp trên từng hướng, đủ sức hình thành bao vây, tiêu diệt, làm tan rã tại chỗ các sư đoàn chủ lực của địch ở vòng ngoài; đồng thời dùng đại bộ phận lực lượng nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ven đô, mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới hóa mạnh đã được tổ chức chặt chẽ, tiến nhanh theo các trục đường lớn đánh thẳng vào 5 mục tiêu đã được lựa chọn trong nội thành. Với cách đánh như vậy, quân ta hoàn toàn tập trung được sức mạnh để đánh vào các mục tiêu chủ yếu đã lựa chọn kết hợp với tiêu diệt địch ở vòng ngoài không cho địch trong ngoài ứng cứu làm giảm bước tiến quân của ta.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thắng lợi vẻ vang đã khẳng định cho cách đánh này là hoàn toàn đúng đắn. Đặc biệt, cách mạng đã giữ được thành phố Sài Gòn hầu như nguyên vẹn. Đó là một thành công to lớn mà cả thế giới thấy kinh ngạc.

Phối hợp chặt chẽ với các đòn quân sự then chốt là các cuộc tiến công và nổi dậy của quân dân các địa phương khắp chiến trường (đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long) theo phương thức xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh. Đến ngày 2/5/1975, miền Nam nước ta hoàn toàn giải phóng.

Như vậy, trong một thời gian ngắn (55 ngày đêm), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng đã diệt và làm tan rã hơn 1 triệu quân chủ lực và khoảng 1,5 triệu quân thuộc lực lượng phòng vệ dân sự của địch, đập tan bộ máy chính quyền và quân đội Sài Gòn, giải phóng miền Nam, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đồng thời kết thúc vẻ vang cuộc trường chinh 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), mở ra kỉ nguyên mới của dân tộc Việt Nam: cả nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 chính là “cột mốc vàng” của lịch sử dân tộc, khẳng định nét độc đáo, sáng tạo trong nghệ thuật chỉ đạo kết thúc chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam phù hợp với yêu cầu của thời cơ quân sự, thời cơ chính trị và hơn hết khẳng định cho trí tuệ, tài thao lược Việt Nam trong “cuộc đụng đầu lịch sử” chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Đề xuất

Sự Thật Về Cuộc Di Tản Trước Giải Phóng Miền Nam Năm 1975

Trước thời điểm giải phóng một vài tháng, người Mỹ đã phao tin về một “cuộc thảm sát đẫm máu” khủng khiếp có thể sẽ xảy ra ở Sài Gòn nếu Việt Cộng chiếm được thành phố. Mỹ khẳng định sẽ có khoảng từ 150.000 – 200.000 người sẽ trở thành nạn nhân của những cuộc trả thù. Những tưởng tượng về một cuộc thảm sát đẫm máu đó đã lan truyền rộng, không chỉ trong giới sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nhân viên làm việc cho Mỹ, mà còn lan tới những người phục vụ cấp thấp sống dựa vào đồng đô-la Mỹ. Từ gái bar phục vụ lính Mỹ tới đầu bếp, lái xe làm việc cho các gia đình người Mỹ, các bác sĩ, kỹ sư và những thanh niên chỉ đơn thuần là học tại Mỹ cũng đều sợ mình sẽ là mục tiêu tấn công.

Cụ thể, chính quyền Thiệu phối hợp với Washington gieo rắc những thông tin như: 12 cảnh sát Việt Nam Cộng hòa bị diễu trần truồng qua các đường phố khi quân giải phóng chiếm Đà Nẵng, rồi sau đó bị chém đầu từng người một; Giám mục nhà thờ Buôn Ma Thuột bị Việt Cộng bắt và bị chặt thành 3 mảnh; 300 người bị đánh bằng gậy cho tới chết ở chợ Buôn Ma Thuột. Trước giải phóng, tất cả người dân Sài Gòn đều bị tuyên truyền và truyền miệng những câu chuyện kiểu như vậy do Mỹ Thiệu dựng lên.

Nhân viên và binh lính Mỹ vội vã lên một chiếc trực thăng của Hải quân Mỹ trong cuộc di tản Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, ngày 29/4/1975 (Ảnh: Neal Ulevich – AP)

Tất cả chỉ là dựng chuyện. 300 người chết ở Buôn Ma Thuột thật nhưng họ là nạn nhân của một trận ném bom do chính Thiệu ra lệnh sau khi thành phố này được giải phóng.

Càng gần tới ngày giải phóng, Mỹ càng phóng đại nguy cơ thảm sát đối với người dân miền Nam. Ngày 16/4, James Schlesinger, Bộ trưởng Quốc phòng, đã báo cáo Quốc hội Mỹ rằng, ít nhất 200.000 người dân của Việt Nam Cộng hòa có thể sẽ bị giết trong sự kiện Cộng sản chiến thắng. Ngoại trưởng Mỹ Kissinger phát biểu trước Ủy ban Cứu trợ khẩn cấp của Hạ viện rằng: “Chúng tôi cho rằng, Cộng sản đang cố thanh toán tất cả các thành phần có thể. Sẽ có nhiều hơn các án tử hình nữa”. Tờ Stars and Stripes, tờ báo của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, đã đưa một dòng tít gây sự chú ý trong một trong những số báo: “Sẽ có ít nhất một triệu người Việt Nam Cộng hòa bị tàn sát”.

Theo cuốn sách “Giải phóng” của nhà báo Ý Tizano Terzani, Mỹ cố tình tạo nỗi kinh hoàng trong lòng dân miền Nam tới mức độ các cô gái thậm chí tin rằng quân giải phóng “sẽ rút móng tay của từng cô gái một chỉ đơn giản bởi vì họ sơn móng tay” hoặc những người phụ nữ có con với người Mỹ tin rằng, Cộng sản sẽ bắt và giết những đứa con của họ.

Ngày 17/4, Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh. Chính quyền Sài Gòn tận dụng việc này và cho đăng tải trên trang nhất các tờ báo ở Sài Gòn về những câu chuyện không rõ ràng về các cuộc thảm sát và bạo lực ở Campuchia. Việc này một lần nữa làm người dân căng thẳng, lo sợ điều tương tự sẽ diễn ra ở Việt Nam với quy mô lớn hơn. Nhiều người Sài Gòn thân Mỹ tự tưởng tượng ra rằng, sẽ có các nhóm ám sát đi từ nhà này tới nhà khác với những danh sách sẵn có từ lâu (như họ vẫn nghe thấy) để tìm người để bắn.

Chính nhà báo phương Tây Tizano Terzani đã khẳng định: “Những câu chuyện và những đồn đại về các cuộc tàn sát, “thảm sát đẫm máu” là do cơ quan tuyên truyền của Mỹ và Thiệu nghĩ ra và tuyên truyền để làm mất uy tín của đối phương, để củng cố tinh thần kháng cự trong người dân và trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cũng là để thuyết phục Quốc hội Mỹ dành thêm hàng tỉ đôla để cứu Việt Nam, hoặc ít nhất là cứu một số lượng lớn những người miền Nam Việt Nam”. Nhưng sự tuyên truyền này lại gây tác dụng ngược, trở thành một trong những yếu tố khiến miền Nam trở lên hỗn độn, bạo lực và dễ dàng sụp đổ hơn.

Mỹ lên kế hoạch tổ chức di tản

Mỹ không chỉ tuyên truyền mà còn trực tiếp lên kế hoạch thực hiện việc di tản. Người Mỹ đã lên các kế hoạch sẽ di tản không chỉ toàn bộ kiều bào Mỹ và người thân của họ, mà còn tất cả những người Việt Nam đã hợp tác với Mỹ.

Bộ phận CIA của Đại sứ quán đã chuẩn bị một danh sách dài những người cần di tản, có phân chia thứ tự ưu tiên di tản khác nhau phụ thuộc vào mức độ bị đe dọa của mỗi người. Đầu tiên là các quan chức cấp cao, các bộ trưởng đương chức hoặc đã nghỉ hưu; các đặc vụ, những cảnh sát mật. Sau đó là di tản các lãnh đạo tỉnh, huyện, các nghị sĩ, các quan chức cao cấp của một số bộ nhất định, các tướng và nhân viên ngoại giao đã nghỉ hưu. Tiếp đến là những người có mối liên hệ với chính sách của Mỹ ở Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Mỹ đã tính toán, tối thiểu là khoảng 130.000 người cần được di tản. Danh sách di tản đã sẵn sàng. Một phi đội máy bay đã được Lầu Năm Góc chỉ định cho việc di tản. Các tàu Mỹ cũng sẵn sàng ngoài phao số 0 để vận chuyển người di tản. Việc di tản diễn ra chậm hơn dự kiến chỉ vì Đại sứ Martin ở Sài Gòn và Ngoại trưởng Mỹ Kissinger ở Washington lo sợ di tản quá sớm sẽ đẩy nhanh hơn nữa sự sụp đổ của một chế độ vốn đã lung lay tận gốc.

Ngoại ô Sài Gòn ngày 30/4/1975; Lính Việt Nam Cộng hòa vứt bỏ quân phục để che giấu thân thế của mình. (Ảnh: Dương Thanh Phong)

Khi nhận thấy thế bại chắc chắn, Đại sứ quán Mỹ vẫn chưa tuyên bố di tản chính thức nhưng đã bí mật di tản những gia đình Mỹ đi trước để không gây sự chú ý quá mức. Mãi tới khi Tổng thống Thiệu từ chức, cuộc di tản mới được tuyên bố chính thức với con số mà Mỹ dự định mang đi lên tới 35 ngàn người. Các thẻ lên máy bay bắt đầu được phát để mọi người lên những chiếc “Freedom Birds – Những chú chim tự do”, những chiếc máy bay rời đến Guam hoặc Phillippines, trước khi sang Mỹ tỵ nạn.

Kích động di tản để kiếm tiền

Di tản người Việt Nam biến thành cơ hội để kiếm tiền cho quan chức và binh lính Mỹ. Họ bảo lãnh và hứa cho nhiều người Việt di tản, khiến những người này đã bán tất cả mọi thứ tài sản, đổi những đồng tiền cuối cùng của mình sang đồng đôla với giá chợ đen chỉ để được đi.

Ngày bại trận tới gần, những thẻ lên máy bay được Đại sứ quán Mỹ cấp cho người Việt càng trở nên quý giá. Ở chợ Sài Gòn, những tấm thẻ đó tăng từ 1 nghìn đến 2 nghìn, rồi 3 nghìn đôla một tấm. Nhân viên làm ở Cục thông tin Mỹ thay vì cấp những tấm thẻ đó cho mọi người ở cơ quan, đã bán chúng với giá 1.500 đôla mỗi tấm.

Ở Sài Gòn, người ta đồn đại rằng, mỗi người Mỹ có thể đưa theo sang Mỹ tới 10 người Việt bằng cách như trên và một thị trường mới bắt đầu phát triển trong cơn tuyệt vọng và sợ hãi của nhiều người. Các gia đình giàu có cố gắng mua “những người Mỹ”, những người có thể đưa họ đi với giá từ 5 đến 10 nghìn đôla mỗi suất. Nhiều người đã đưa tiền và sau đó không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào.

Những người Mỹ khởi hành rời Việt Nam, thậm chí còn quên cả những người đồng hương và đồng minh của họ. Mỹ để lại Việt Nam 250 người Phillippines đã từng làm việc cho họ. Họ cũng bỏ rơi 12 nhà ngoại giao Hàn Quốc, một nhóm người Hoa đến từ Đại sứ quán Đài Loan và đã để lại toàn bộ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Campuchia thời Lon Nol. Cuối cùng, chính quân giải phóng là những người đã bí mật đưa nhiều người trong số này lên những chiếc máy bay đầu tiên rời Việt Nam sang Lào để tránh sự lựa chọn khó xử.

Kết luận về cuộc di tản lịch sử

Như vậy, có thể kết luận cuộc di tản khổng lồ diễn ra trước khi Sài Gòn giải phóng là do chính Mỹ và chính quyền Thiệu tạo ra, đánh vào tâm lý sợ hãi của người dân, đẩy họ rời khỏi Việt Nam để gây mất ổn định cho chính quyền mới, khoét sâu hận thù dân tộc, đổ lỗi cho quân giải phóng. Cuộc di tản còn nhằm phá hoại nền kinh tế miền Nam bởi tầng lớp di tản cũng là những người nắm giữ huyết mạch kinh tế, đặc biệt là cộng đồng doanh nhân và cộng đồng người Hoa. Dư âm của cuộc di tản tới giờ vẫn chưa kết thúc, sự thù hận và tố cáo tới giờ vẫn tiếp diễn với luận điệu chủ yếu là lên án bạo lực của chính quyền Cách mạng đã đẩy người dân tới chỗ phải rời bỏ đất nước.

Sự thật sau gần nửa thế kỷ đã được làm rõ trong hầu hết các tài liệu từ phía bên kia. Tất cả đều khẳng định: sau ngày giải phóng và những năm sau đó, ở Sài Gòn không có sự thanh toán, trả thù lẫn nhau, không có việc sát hại những người theo Mỹ. Nhà báo người Ý viết trong cuốn “Giải phóng”: “Ngày 30 tháng 4 và những ngày sau đó, ở Sài Gòn không có chuyện bắn những kẻ cộng tác với địch, những cảnh sát hay những kẻ tra tấn người yêu nước trước đó. Thật kỳ lạ, đối với một thành phố luôn âm ỉ những lời đồn đại, những câu chuyện không có thật và khó tin nhất như Sài Gòn thì lại không có đến một lời đồn đại về một án tử hình ở đâu đó”.

Người dân Sài Gòn tưng bừng chào đón quân Giải phóng, ngày 30/4/1975. Sự giết chóc đã không hề xảy ra như những gì Mỹ-ngụy phao tin để gieo rắc nỗi sợ hãi trong nhân dân. (Ảnh: Đinh Quang Thành)

Thực tế, đã có một số án tử hình trong 3 tháng ở Sài Gòn sau giải phóng nhưng đó hoàn toàn là việc xử lý những kẻ phạm tội giết người, cướp bóc, không có tội phạm chính trị. Thực tế, nhiều tàn binh của Thiệu đã thâm nhập và giả vờ làm bộ đội để khủng bố người dân ở các khu dân cư, vào các biệt thự bỏ hoang để ăn trộm của cải, ô-tô xe máy. Nhiều bộ đội giải phóng đã bị những kẻ tội phạm giết hại trên phố vào ban đêm chỉ để chúng lấy những bộ quân phục của họ để thực hiện những việc phạm tội. Chính nhờ sự cứng rắn của chính quyền Cách mạng mà tội phạm trên đường phố Sài Gòn giảm hẳn so với trước giải phóng. Bộ đội và quân giải phóng không hề “cướp bóc” như những kẻ chống đối dựng chuyện, mà ngược lại đã dẹp yên được nạn hôi của cướp phá trong nội đô Sài Gòn.

Trước và sau giải phóng, chính quyền Cách mạng đều có chủ trương hết sức rõ ràng rằng, phải để Mỹ rút lui trong danh dự để sớm ổn định đất nước. Đã không có cuộc tấn công nào vào lính Mỹ và các nhân viên của chính quyền Hoa Kỳ khi họ di tản. Đối với người Việt đã theo Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng xác định họ đã bị lợi dụng chứ không phải là đối tượng cần mạnh tay xử lý. Chính quyền luôn coi trọng việc bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc và giữ gìn sự ổn định của miền Nam. Chính vì thế, đúng như các nhà báo nước ngoài đã tường thuật, các nhà chức trách quân sự thường xuyên phát đi những lời kêu gọi qua radio, hối thúc mọi người bảo vệ cả tài sản cá nhân và “tài sản của nhân dân”, các thông báo được gửi đi đều nhấn mạnh sẽ có “những hình phạt rất nặng” đối với những kẻ trộm, cướp. Tất cả người dân đều được giải thích rõ rằng chính sách của cách mạng là khoan hồng, rằng không ai bị phạt vì phạm tội trong quá khứ, không ai phải sợ sẽ bị trả thù.

Một thực tế khác không thể không nhắc tới là vào ngày giải phóng và sau đó, có hiện tượng như việc gia đình một số người yêu nước đã bắt hai sĩ quan cảnh sát chế độ cũ có tội ác và định hành hình họ. Bộ đội đã can thiệp và hai người này đã được cứu sống. Tài liệu nước ngoài ghi nhận: “Những sự vụ tương tự đã xảy ra ở nhiều nơi khác, đặc biệt là ở các làng, nơi mối quan hệ giữa người dân và những kẻ đàn áp dân mang tính cá nhân hơn và mọi người biết nhau. Bộ đội thường phải nhốt cảnh sát Ngụy trong các nhà tù trước đây của chính họ và canh phòng cẩn mật để bảo vệ họ khỏi các nhóm người dân muốn xét xử họ”.

Thực tế này khiến chính quyền Cách mạng phải tiến hành việc đăng ký nhân thân, khai báo trình diện và cấp giấy cư trú. Tiếp nữa, chính quyền tổ chức các khóa học tập cải tạo tại chỗ hoặc tập trung. Đối với một số người, việc cải tạo có thể kéo dài vài ngày, với một số người khác có thể kéo dài vài tháng hoặc có lẽ vài năm. Chính sách này về sau bị không ít đối tượng ở phía bên kia phê phán là đàn áp nhưng không nhìn nhận thấy một thực tế rằng việc tạm cô lập một số nhóm người đặc biệt là quan quân chế độ cũ để tránh việc họ bị xử trái pháp luật, bị trả thù bởi chính người dân. Nếu không tách những người đã từng gây tội ác và có nợ máu với cộng đồng ra bằng cách tập trung cải tạo, có thể vô số những cuộc trả thù trên diện rộng đã diễn ra.

Sau này, Nhà nước Việt Nam đã chủ động để nhiều người thực sự muốn ra đi được ra đi một cách tự do và trật tự. Chính phủ đã đàm phán với Hoa Kỳ cho phép người dân đi theo diện HO, theo diện đoàn tụ và có quan điểm cởi mở đối với những người muốn tìm cơ hội ở quốc gia khác. Đối với những người trốn đi và bị kẹt ở các trại tỵ nạn không nước nào chấp nhận cho định cư, đời sống vô cùng khó khăn, Nhà nước Việt Nam đã chủ động đàm phán với Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tỵ nạn (UNHCR) và các quốc gia có người tỵ nạn để đưa họ trở lại Việt Nam, bố trí công ăn việc làm và nơi ăn chốn ở. Những người thù địch nhất kể cả những lãnh đạo cao nhất của chính quyền Sài Gòn cũ về sau cũng đều được tự do trở về nước sinh sống và làm việc dài hạn. Chính họ đều đã nhìn thấy và chứng kiến sự thay đổi không thể tưởng tượng được của đất nước cũng như thái độ rộng mở của chính quyền Việt Nam.

Có thể nói, quá trình di tản đã để lại không ít những mất mát cho người Việt, đặc biệt là những mất mát về sinh mạng con người. Nhà nước Việt Nam và mỗi người Việt Nam có lương tri đều thấy đau xót trước những mất mát này. Đó là những hệ quả đáng tiếc và dường như khó tránh khỏi trong bối cảnh chiến tranh và ly loạn.

Cho dù vậy, thời gian đã đi qua đủ dài để giờ đây chúng ta nhận rõ đâu là sự thật và đâu là những lời nói dối. Từ nhận thức này, những người chưa nhận thức đúng cần nhận thức lại. Mỗi người đều có thể mắc sai lầm nhưng nhận thức lại mới giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn. Những ai còn suy nghĩ lệch lạc về cuộc di tản của người Việt trước và sau giải phóng cần xem xét lại, bởi không có cuộc trả thù nào giữa người Việt với nhau mà chỉ có chính sách đại đoàn kết dân tộc, như chính một Chính ủy Trung tâm Biên Hòa đã nói với nhà báo Ý vào những ngày ngay sau giải phóng: “Chúng tôi đã tha thứ cho các phi công Mỹ đã ném bom xuống nhà cửa của chúng tôi, đốt cháy con chúng tôi. Tại sao chúng tôi không thể tha thứ cho những người Việt, những người đã làm theo lệnh của người Mỹ?”. Đó chính là tinh thần hòa giải của người Việt trong ngày vui lịch sử của dân tộc, ngày thống nhất 30 tháng 4 năm 1975./.

Ảnh độc: 48 giờ trước thời khắc giải phóng miền Nam 30.4.1975

Những hình ảnh do phóng viên quốc tế chụp đã ghi lại khoảnh khắc thành phố Sài Gòn 2 ngày cuối cùng trước khi được …

Ký ức ngày Giải phóng Miền Nam của người lính xe tăng anh hùng

Với ông Nguyễn Trần Đoàn, niềm vinh dự nhất được đóng góp một phần công sức bé nhỏ của mình vào chiến thắng của dân …

Xúc động những hình ảnh không thể nào quên về ngày 30.4 thống nhất đất nước

Ngày 30.4.1975 là một mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc – tổng tiến công chiến lược mùa Xuân 1975, đỉnh cao là …

Cập nhật thông tin chi tiết về “Đánh Tư Sản” Ở Miền Nam Sau 1975 trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!