Xu Hướng 5/2023 # “Đánh Tư Sản” Ở Miền Nam Sau 1975 # Top 12 View | Ictu-hanoi.edu.vn

Xu Hướng 5/2023 # “Đánh Tư Sản” Ở Miền Nam Sau 1975 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết “Đánh Tư Sản” Ở Miền Nam Sau 1975 được cập nhật mới nhất trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tú Hoa

I. ĐÁNH TƯ SẢN

ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội thực hiện đối với người dân miền Nam Việt Nam theo Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam 

Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN đối với người dân miền Nam được Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.

Đợt  X1 được bắt đầu vào sáng ngày 11 tháng Chín năm 1975 xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Đợt X1 này tập trung vào những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh, sanh sống thanh công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm.

Đợt X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978 và được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.

Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ sài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẫm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẫm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa.

Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận là đã có trên 10000 tiệm bán bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản và cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí vốn đã từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Chu Trinh cho dân tộc

Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị  vào tháng Năm năm 1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đát đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất” dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.

Tình trạng ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn dù không ồn ào bằng.

Tổng số lúa mà nông dân miền Nam bị chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978 trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.

Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân miền Nam trước những đợt thu lúa từ năm 1977 trở đi.

Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3 đặc biệt tập trung tại Sài Gòn. Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.

Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo TW Vào ngày 16 tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp đợt thực hiện này.

Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại. Cuối đợt X3 , ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!

Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đổ Mười trực tiếp chỉ huy. Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.

Riêng về tổng số vàng, nữ trang tịch tư từ tư bản ở miền Nam được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng- nhưng đây chỉ là con số tượng trưng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm năm 1977 qua tháng Hai năm 1978 mà thôi. Cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương thu trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN ở miền Nam.

Xin được ghi chú thêm là chỉ nội vụ Hà Nội tiến hành cho phép người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức nếu đóng khoảng 120 lượng vàng đã góp vào gần 10 ngàn lượng vàng tổng cộng.

Trung bình , mổi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị , đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975 nhưng đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.

II. KINH TẾ MỚI:

Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Sản Hà Nội tịch thu nhà , tài sản điều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.

Chỉ tiêu đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại cho Hà Nội quản lý. Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ- ĐÁNH TƯ SẢN như sau:

THỜI KỲ

CHỈ TIÊU

KẾT QUẢ THỰC HIỆN

GHI CHÚ

1976- 1979

4 triệu người

1,5 triệu người

95% là từ Sài Gòn

1979-1984

1 triệu người

1,3 triệu người

50% là từ Sài Gòn

Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:

– 30% trả thuế

– 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;

– 15% trả lương cho cán bộ quản lý ;

– 30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động

Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị Đảng tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới.

Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.

Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh.

Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.

III. Quyết Định 111/CP của Hà Nội về việc “Đánh tư sản ” ở miền Nam Việt Nam

Quyết định 111/CP của Hà Nội là một tài liệu chứng quan trọng. Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.

Xem Nguyên văn quyết định 111/CP:

Trích : 

IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG

1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.

2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:

– Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên. – Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên. – Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên. – Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.

Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.

Không khí hoảng sợ , đau thuơng oán hận lan tràn khắp cả miền Nam.

IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Hà Nội:

Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.

Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU mà chỉ có quyền SỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Hà Nội.

Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.

Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam.Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.

Sang đến năm 1989, báo SGGP từ Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)

Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.

Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi.

Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt triệu người dân miền Nam về hành động này.

Nguồn bài đăng

Chia sẻ:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

45 Năm Giải Phóng Miền Nam: Trận Đánh Vào Đài Ra

(CATP) Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Bộ đội Đặc công được giao nhiều trọng trách: đánh chiếm và giữ 14 cây cầu cùng 6 căn cứ án ngữ cửa ngõ Sài Gòn của địch, tấn công vào cảng Nhà Bè, chia cắt sông Lòng Tàu, phối hợp với Sư đoàn 3 tiến công Vũng Tàu; tiến hành mở và bảo vệ cửa mở ở phía bắc sân bay Tân Sơn Nhất, đón chủ lực vào đánh chiếm sân bay…, tạo thuận lợi và bảo đảm đường cơ động cho các cánh quân thần tốc tiến vào, tấn công chiếm giữ một số mục tiêu quan trọng trong nội đô, hỗ trợ quần chúng nổi dậy… làm chủ một số khu vực.

Ngoài tham gia tiến đánh một số mục tiêu quan trọng, đặc biệt Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công – Trung đoàn Đặc công 429 được lệnh phối hợp với Tiểu đoàn 13 cùng Trung đoàn và Tiểu đoàn Biệt động 197 tấn công, phá hủy, làm tê liệt hoạt động của Căn cứ ra – đa Phú Lâm ở ngoại ô Sài Gòn. Trận đánh ác liệt cứ ngỡ như mới hôm nào…

Từ lễ truy điệu sống…

Sau nhiều lần trinh sát nắm tình hình, đêm 17-4-1975, Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công cùng Tiểu đoàn 13 và Tiểu đoàn Biệt động 197 chia thành 2 mũi tấn công Căn cứ ra – đa Phú Lâm. Để tiếp cận mục tiêu này, lực lượng Đặc công – Biệt động của ta phải tìm cách vượt nhiều lớp hàng rào dây thép gai, trên các lớp rào có cài nhiều mìn vướng nổ. Địch tổ chức canh gác cẩn mật quanh khu vực này suốt ngày đêm; muốn vào được căn cứ phải băng qua một cánh đồng rộng, trống trải, đầy bom mìn.

Đồng chí Trương Văn Hồng – cựu Tiểu đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công – nhớ lại: “Trong trận đánh vào Căn cứ ra – đa Phú Lâm, tôi được giao chỉ huy Đại đội 2 – Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đặc công do đồng chí Dương Văn Sê (quê Thái Nguyên) làm đại đội trưởng tiến đánh. Được bộ đội địa phương dẫn đường, rạng sáng 18-4-1975, hướng tấn công của Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công cùng Tiểu đoàn Biệt động 197 tiến vào vị trí triển khai, tiến hành nổ súng. Mũi tấn công của 2 lực lượng đột nhập vào trong, phá hủy một số trang thiết bị quan trọng của địch. Ở một số hướng khác, do địch chống trả quyết liệt, các chiến sĩ chưa vào sâu bên trong nhưng cũng phá hủy nhiều thiết bị ăng – ten, máy phát sóng của địch… làm tê liệt hoạt động của chúng”.

Những người trực tiếp tham gia trận đánh kể: Trước khi bước vào trận chiến quyết định này, 20 cán bộ chiến sĩ (CBCS) đảm nhận vai trò tiên phong mở cửa được đơn vị làm lễ truy điệu sống. Bên cạnh thông tin trinh sát báo về, đơn vị chỉ có tấm bản đồ cũ vẽ bằng bút bi từ năm 1967 về hình thái chung của căn cứ ra – đa này. Bộ đội Đặc công đã lấy đèn tín hiệu trên cột thu phát sóng làm chuẩn để tiến công.

“Lúc mở cửa, quả bộc phá 5kg đầu tiên điểm hỏa không nổ, phải đến quả 5kg thứ hai đặt chồng lên mới tạo sức công phá cộng hưởng cực mạnh, phá bung cánh cửa sắt và một phần bức tường hai bên. Khi đó, những cánh ra – đa lớn đã hiện ra trước mắt, nhưng chúng tôi không thể tiếp cận ngay được vì vướng hào nước kết hợp hàng rào dây thép gai của địch. Các chiến sĩ của ta đã sử dụng hỏa lực B41, B40 nhắm thẳng mục tiêu ra – đa nhả đạn, mở toang cửa cho đồng đội xung phong tiêu diệt địch, làm chủ hoàn toàn căn cứ”, cựu Tiểu đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công Trương Văn Hồng nhớ lại.

… Đến ngày trở về chiến thắng

Theo cựu Chính trị viên Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công Hoàng Văn Thượng, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bí mật từ Long An lên Sài Gòn đánh vào Trung tâm thông tin Phú Lâm (Đài ra – đa Phú Lâm) ở quận 6 nhằm cắt đứt liên lạc, làm tê liệt quân địch. Đây là trung tâm thông tin lớn nhất, hiện đại nhất châu Á lúc bấy giờ, với gần 800 nhân viên quân sự hoạt động. Nhiệm vụ được giao rất khó khăn, nhất là phải đưa cả Tiểu đoàn hơn 100 người vào giữa Sài Gòn khi quân địch đang kiểm soát gắt gao. Rút kinh nghiệm lần đánh vào Căn cứ ra – đa Phú Lâm đêm 17 rạng sáng 18-4-1975, tối 28-4-1975 Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công đã áp sát mục tiêu, đang cắt hàng rào dây thép gai thì bị địch phát hiện, nã súng như mưa xuống hào làm 7 chiến sĩ hy sinh.

Trong tình thế nguy cấp, quân ta buộc phải gọi lực lượng chi viện nã pháo vào trong, nhưng căn cứ của địch quá kiên cố, đánh suốt 1 ngày đêm vẫn chưa chiếm được. Đến 9 giờ sáng 30-4-1975, Tiểu đoàn 21 Trinh sát Đặc công họp bàn, đưa ra quyết định táo bạo: tổ chức nhóm 20 chiến sĩ đánh thẳng vào cổng chính. Tiểu đoàn phó Trương Văn Hồng cùng 2 chiến sĩ là Trịnh Viết Ngọ, Khuất Duy Tiến (đều quê Hà Tây, nay là Hà Nội) xông thẳng vào sở chỉ huy địch, bắt sống tên trung tá, chỉ huy Đài ra – đa Phú Lâm. Đồng chí Trương Văn Hồng yêu cầu viên chỉ huy Đài ra – đa Phú Lâm lệnh cho các đơn vị địch ngừng nã pháo. Quân giải phóng chiếm toàn bộ Trung tâm thông tin ra – đa Phú Lâm. Vừa lúc đó, trên Đài phát thanh thông báo tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Quân giải phóng vô điều kiện…

Đã 45 năm trôi qua nhưng những người lính Tiểu đoàn Trinh sát 21 Đoàn 429 Đặc công từng tham gia trận đánh vào Trung tâm thông tin ra – đa Phú Lâm vẫn không thể quên ký ức một thời oanh liệt ấy. Và khi tôi viết những dòng này, các đồng đội Trương Văn Hồng, Dương Văn Sê, Khuất Duy Tiến, Trịnh Viết Ngọ… vẫn tiếp tục thực hiện những chuyến về thăm chiến trường xưa, thắp nén hương tưởng nhớ đồng đội đã ngã xuống trong những chiến hào ngập khói, tham gia truy tìm hài cốt đồng đội và giúp đỡ thân nhân các cựu chiến binh có hoàn cảnh khó khăn… trọn vẹn nghĩa cử tri ân, sắt son tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng của những người lính Bộ đội Đặc công Anh hùng.

Vbt Lịch Sử 9 Bài 31: Việt Nam Trong Năm Đầu Sau Đại Thắng Xuân 1975

VBT Lịch Sử 9 Bài 31: Việt Nam trong năm đầu sau đại thắng xuân 1975

Bài 1 trang 119 VBT Lịch sử 9: Điền vào bảng kiến thức phù hợp về tình hình Miền Bắc và Miền Nam sau Đại thắng mùa xuân 1975.

Trả lời:

Miền Bắc

– cách mạng xã hội chủ nghĩa đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện.

– những cơ sở vật chất – kĩ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội bước đầu được xây dựng

– Hậu quả từ cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quâ của Mĩ để lại nặng nề. → quá trình tiến lên của đất nước bị chậm lại nhiều năm.

Miền Nam

– Miền Nam được giải phóng hoàn toàn. Chế độ thực dân mới của Mĩ và bộ máy chính quyền Sài Gòn trung ương sụp đổ.

– Cơ sở của chính quyền Sài Gòn tại các địa phương vẫn còn tồn tại.

– Nền kinh tế Miền Nam phát triển mất cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ của nước ngoài.

– Hệ quả của chính sách văn hóa ngu dân của Đế quốc Mĩ để lại rất nặng nề: tỉ lệ người mù chữ cao; trong xã hội phổ biến các tệ nạn: cờ bạc, ma túy, mãi dâm…

Bài 2 trang 119 VBT Lịch sử 9:

Trả lời:

– Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội.

– Hoàn thành nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Cam-pu-chia

– Đến năm 1976, căn bản hoàn thành nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế:

+ Diện tích trồng trọt tăng so với năm 1975.

+ Nhiều công trình, nhà máy được mở rộng, xây mới.

+ Sản lượng các sản phẩm đều vượt mức trước chiến tranh.

+ sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế phát triển mạnh.

– Có nhiều đóng góp tích cực đối với sự phát triển của cách mạng Lào và Cam-pu-chia.

Bài 3 trang 120 VBT Lịch sử 9: Hãy đánh dấu X vào ô trống trước ý trả lời đúng về chủ trương, biện pháp của Đảng và chính quyền cách mạng ở Miền Nam nhằm thực hiện các nhiệm vụ cấp bách trong năm đầu dau đại thắng mùa xuân 1975.

Trả lời:

Bài 4 trang 120-121 VBT Lịch sử 9: Quốc hội khóa VI họp kì họp thứ nhất (từ ngày 24-6 đến ngày 3-7-1976) dã có những quyết định gì về một nước Việt Nam thống nhất vè về cơ cấu tổ chức của nhà nước Việt Nam thống nhất đầu tiên?

Trả lời:

a. Về một nước Việt Nam thống nhất.

– Quyết định lấy tên nước ta là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

– Thông qua chính sách đối nội và đối ngoại.

– Quyết định: Quốc kì – Cờ đỏ sao vàng; Quốc ca – Tiến quân ca; Quốc huy mang dòng chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

– Quyết định: Hà Nội là thủ đô; đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh.

b. Về cơ cấu tổ chức nhà nước Việt Nam thống nhất đầu tiên.

– Ở trưng ương.

– Bầu các cơ quan, chức vụ lãnh đạo cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

– Bầu ban dự thảo Hiến pháp.

– ở địa phương.

– Tổ chức thành 3 cấp chính quyền: Tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; Huyện và tương đương; Xã và tương đương.

– Bầu hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở các cấp chính quyền.

Bài 5 trang 121 VBT Lịch sử 9: Quá trình hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã trải qua những bước như thế nào? Hãy đánh dấu X vào ô trống trước ý trả lời đúng.

Trả lời:

Bài 6 trang 121 VBT Lịch sử 9: Việc thực hiện những nhiệm vụ cấp bách trước mắt và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước trong năm đầu sau kháng chiến chống Mĩ thắng lợi có ý nghĩa gì? Hãy đánh dấu X vào ô trống trước ý trả lời đúng.

Trả lời:

x

Nước ta đã thống nhất về mặt nhà nước, tạo ra những điều kiện chính trị cơ bản để phát huy sức mạnh toàn diện của đất nước, những khả năng to lớn để bảo vệ tổ quốc và mở rộng quan hệ đối ngoại.

Bài 2 : Cách Mạng Tư Sản Pháp (1789

Khoanh tròn vào chữ in hoa trước ý trả lời đúng

Câu 1. Ba đẳng cấp trong xã hội Pháp trước cách mạng là :

Câu 2. Những nhân vật tiêu biểu cho trào lưu tư tưởng tiến bộ ở Pháp vào thế kỉ thứ XVIII là

Câu 3. Mâu thuẫn bao tùm trong xã hội Pháp trước cách mạng là

Câu 4. Sau thắng lợi ngày 14-7-1789, quyền lực ở Pháp thuộc về

Câu 5. Khẩu hiệu nổi tiếng của bản Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền là

Câu 6. Chế độ chính trị được xác lập ở Pháp sau hiến pháp 1719 là

Câu 7. Chính sách của chính quyền Gia-cô-banh thể hiện sự triệt để cách mạng:

Câu 8. Lực lượng chủ yếu đưa Cách mạng Pháp lên đỉnh cao là

Hướng dẫn giải

1.  Trong xã hội phong kiến Pháp,chỉ có Quý tộc là đẳng cấp được hưởng mọi đặc quyền kinh tế mà không phải đóng thuế cho nhà vua. 2.  Tư tưởng của trào lưu Triết học Ánh sáng được coi là sự đi trước dọn đường cho Cách mạng Tư Sản Pháp bùng nổ. 3.  ” quyển sở hữu là quyền bất khả xâm phạm và thiêng liêng” là một nội dung thể hiện bản chất giai cấp tư sản của Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của nước Pháp. 4.  Những chính sách tiến bộ của chính quyền dân chủ Cách mạng Gia-cô-banh đã được triển khai rất hiệu quả trong thực tế. 5.  So với các cuộc cách mạng tư sản đầu tiên, Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII là cuộc cách mạng triệt để nhất.

Hướng dẫn giải

Đúng 2,3,5 Sai 1,4

Hãy hoàn thiện sơ đồ sau về sự phân chia đẳng cấp trong xã hội Pháp trước cách mạng.

Nối 1 với A,B,D ; nối 2 với C

Điền mốc thời gian cho phù hợp với sự kiện lịch sử trong bảng sau về diễn biến chính của Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII.

Hướng dẫn giải

Hãy vẽ sơ đồ thê hiện quá trình phát triển của Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII.

Hướng dẫn giải

Hướng dẫn giải

Quần chúng nhân dân đã làm nên những sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định: lật đổ chế độ quân chủ chuyển chế, thiết lập nền cộng hòa, xác lập nền chuyên chính dân chủ cách mạng, đánh thắng giặc ngoại xâm. Quần chúng đã thúc đẩy cách mạng tiến lên trong lúc hàng ngũ giai cấp tư sản phân hóa, các tầng lớp đại tư sản, tư sản công thương dấn chuyển sang hàng ngũ phản cách mạng. Giai đoạn 1: Quần chúng đánh chiếm ngục Ba-xti. Cách mạng nổ ra và thắng lợi, hạn chế quyền của vua lập nền quân chủ lập hiến, xóa bỏ đẳng cấp. Giai đoạn 2: Nhân dân khởi nghĩa lật đổ chính quyền đại tư sản (10-8-1792): xóa bỏ chế độ quân chủ, lập nền Cộng hòa đầu tiên ở PHáp, xử tử vua Lu-i XVI. Giai đoạn 3: Một lần nữa quần chúng cách mạng lại lật đổ phải Gi-rông-danh, đưa những người Gia-cô-banh đứng đầu là luật sư Rô-be-xpi-e lên cầm quyền. Trong giai đoạn này, quần chúng đã lập nền chuyên chính dân chủ cách mạng và đưa CM PHáp tới đỉnh cao. Xóa bỏ mọi nghĩa vụ PK đối với nông dân, giải quyết yêu cầu về ruộng đất cho nông dân, quyết định quyền cho nhân dân… Như vậy, quần chúng nhân dân góp phần quan trọng và quyết định thắng lợi của CM PHáp, đưa CM đi từ thấp lên cao và đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Trình bày ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ thứ XVIII.

Hướng dẫn giải

Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII đã lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế từng thống trị nước Pháp trong nhiều thế kỉ, hoàn thành các nhiệm vụ của một cuộc cách mạng tư sản : lật đổ chính quyền quân chủ chuyên chế, thủ tiêu mọi tàn dư phong kiến, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Những cản trở đối với công thương nghiệp bị xoá bỏ, thị trường dân tộc thống nhất được hình thành. Giai cấp tư sản lãnh đạo cách mạng, song quần chúng nhân dân đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển, đưa cách mạng đến thành công. Do ảnh hưởng của cách mạng và do hậu quả khách quan của những cuộc chiến tranh thôn tính các nước châu Âu, chế độ phong kiến đã bị lung lay ở khắp châu Âu. Cách mạng tư sản Pháp đã mở ra thời đại mới – thời đại thắng lợi và củng cố của chủ nghĩa tư bản ở các nước tiên tiến thời bấy giờ.

Cập nhật thông tin chi tiết về “Đánh Tư Sản” Ở Miền Nam Sau 1975 trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!