Xu Hướng 11/2022 # Giải Nobel Y Sinh Học Năm 2022: Hành Trình Về Bệnh Do Ký Sinh Trùng / 2023 # Top 19 View | Ictu-hanoi.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Giải Nobel Y Sinh Học Năm 2022: Hành Trình Về Bệnh Do Ký Sinh Trùng / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Giải Nobel Y Sinh Học Năm 2022: Hành Trình Về Bệnh Do Ký Sinh Trùng / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Những ai từng theo dõi những nỗ lực của giáo sư Fred Hollow (người Úc) có lẽ sẽ chú ý đến bệnh có tên hơi lạ là bệnh “mù sông”, mà thuật ngữ y khoa tiếng Anh gọi là “onchocerciasis”. Bệnh “mù sông” do một loại giun có tên là onchocerca volvulus (giun chỉ) làm viêm mắt và dẫn đến mù vĩnh viễn.

Giun onchocerca volvulus còn làm bệnh nhân ngứa da và biến dạng da của bệnh nhân. Những người sống gần sông có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, do phơi nhiễm ruồi đen, so với người sống xa sông, do đó có tên là “mù sông” (river blindness).

Theo một ước tính từ năm 1995, có khoảng 26 triệu người trên thế giới bị nhiễm giun chỉ, trong số này có 300.000 người bị mù. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), gần 99% bệnh nhân “mù sông” trên thế giới là người châu Phi, đặc biệt là người sống ở các nước như Yemen, Trung Phi và Nam Mỹ có nguy cơ mắc bệnh cao.

Quá trình phát minh Ivermectin

Hai nhà khoa học William Campbell và Satoshi Omura được vinh danh và ghi nhận vì những đóng góp vô cùng quan trọng trong công cuộc xóa bỏ bệnh giun chỉ trên thế giới. Cả hai đều đã hơn 80 tuổi, nhưng công trình giúp họ đạt đỉnh vinh quang được thực hiện hơn 40 năm về trước.

Câu chuyện đằng sau công trình này là một bài học hợp tác quý báu giữa giới kỹ nghệ và khoa học.

Giáo sư William Campbell xuất thân là một bác sĩ thú y, từng là một nhà khoa học của Tập đoàn dược phẩm Merck, ông chuyên về ký sinh học. Giáo sư Satoshi Omura là một nhà sinh vật học chuyên về môi trường thuộc Đại học Kitasato.

Vào thập niên 1970, Omura và các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Kitasato (Tokyo) đã phát hiện những hợp chất do các vi sinh vật sản sinh trong môi trường tự nhiên. Năm 1971, nhân một kỳ “nghỉ hè hàn lâm” (sabbatical leave), Omura đến làm việc cho phòng thí nghiệm (labo) của TS Max Tishler (Tập đoàn dược Merck).

Năm thứ hai của liên minh khoa học, nhóm Kitasato tách được một vi sinh vật có tên là Streptomyces avermitilis tìm thấy trong đất gần một sân golf giáp thị trấn biển Kawana, thuộc vùng Shizuoka. Mẫu đất và sinh vật được gửi qua labo của Merck để phân tích thêm, và các nhà khoa học của Merck tìm thấy một dòng S. avermectinius có khả năng trừ sán và diệt giun mà không gây tác hại.

Hợp chất có khả năng diệt giun và trừ sán này là avermectin, có khả năng diệt giun cao gấp 25 lần so với thuốc các hợp chất hiện hành. Đến năm 1981, thuốc Ivermectin được phê chuẩn cho bán trên thị trường thú y, nhưng sau này được sử dụng cho việc phòng chống bệnh giun chỉ ở châu Phi.

Hiện nay, Ivermectin được phát miễn phí cho khoảng 300 triệu người trên thế giới mỗi năm. Các giới chức y tế quốc tế cho rằng bệnh giun chỉ sẽ được xóa sổ vào năm 2025. Việc khám phá và sử dụng Ivermectin được xem là một phát minh quan trọng nhất trong lịch sử y tế công cộng trong thế kỷ 20 và được đánh giá ngang hàng với phát minh penicillin.

Từ dự án bí mật đến Artemisinin

Câu chuyện khám phá Ivermectin đã thú vị, nhưng câu chuyện đằng sau Artemisinin càng thú vị hơn. Bệnh sốt rét là một vấn nạn y tế công cộng, hoành hành, gây nạn cho hàng trăm triệu người trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng nhiệt đới như Việt Nam. Những cựu chiến binh thời kháng chiến không xa lạ gì với bệnh sốt rét, vì nó là thủ phạm cướp đi mạng sống của rất nhiều binh sĩ.

Năm 1969, Mao Trạch Đông giao cho nhà khoa học Tu Youyou (Đồ U U) một sứ mệnh quan trọng là tìm thuốc chống sốt rét. Đồ U U lúc đó 39 tuổi, là dược sĩ đang công tác tại Viện Y học cổ truyền Trung Quốc. Dự án bí mật có mã số là “523” (vì thành lập ngày 23-5-1967).

Xuất thân là một dược sĩ nên Đồ U U nghĩ ngay đến dược thảo ở Hải Nam, nơi có khí hậu nhiệt đới. Bà cho biết lúc đó bà chứng kiến rất nhiều trẻ em và người lớn chết vì sốt rét. Bà tìm trong cổ thư y học của Trung Quốc và phát hiện một đoạn viết về cách dùng thảo dược để điều trị sốt rét.

Bà và cộng sự đọc hàng trăm trang sách y học cổ để biết dược thảo dược đó là gì và đến từ đâu. Sau cùng họ tìm ra một loại cây ngải ( Artemisia annua) dùng để điều trị sốt rét. Bà và cộng sự cố công tách hợp chất từ cây ngải Artemisia annua để thử nghiệm trong điều trị và kết quả ban đầu hết sức khả quan. Sau khi thử nghiệm thêm về tính an toàn, Artemisinin được triển khai cho quần thể lớn hơn với những hiệu quả bất ngờ.

Công trình của Đồ U U không được nhiều người trong thế giới khoa học biết đến vì dự án bí mật. Ngay tại Trung Quốc, bà cũng không nổi tiếng, không được bất cứ giải thưởng gì, và không được bầu vào viện hàn lâm khoa học. Mãi đến khi các đồng nghiệp Mỹ và phương Tây có dịp tương tác với giới khoa học Trung Quốc thì mới biết đến thành công của bà Đồ U U.

Năm 2011, bà được trao giải thưởng danh giá Albert Lasker (của Mỹ) – giải này thường là “tiền đề” cho giải Nobel. Đến năm nay thì bà chính thức được vinh danh và ghi nhận qua giải thưởng Nobel y sinh học 2015. Bà là nhà khoa học quốc tịch Trung Quốc đầu tiên được trao giải Nobel.

Đường về tư tưởng Nobel

Hai công trình được trao giải Nobel y sinh học năm nay thuộc vào nhóm bệnh bị… quên lãng. Quên lãng là vì trước đây các giới chức y tế phương Tây từng tuyên bố một cách tự hào rằng “Bây giờ chúng ta có thể nói rằng bệnh truyền nhiễm đã được khống chế hoàn toàn.

Đã đến lúc chúng ta đóng sổ căn bệnh này”. Nhưng trong thực tế thì bệnh truyền nhiễm vẫn còn là một mối đe dọa lớn đến đa số người dân trên thế giới. Chẳng hạn, bệnh sốt rét vẫn còn là một mối đe dọa đến rất nhiều người ở Việt Nam.

Do đó, giải Nobel y sinh học năm nay là một nhắc nhở rằng thế giới vẫn còn đang phải đối phó với bệnh ký sinh trùng và nhiễm trùng nói chung. Hào quang về những ca mổ vĩ đại vẫn không cứu được hàng triệu bệnh nhân mắc các bệnh trong cộng đồng.

Lý do đơn giản là thị trường thuốc điều trị bệnh truyền nhiễm tuy lớn nhưng là những nước nghèo nên các tập đoàn dược không quan tâm đến tiềm năng kinh tế bằng các thuốc điều trị bệnh của người giàu.

Đây là những công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, và có thể xem là y học cổ truyền. Trong quá khứ gần, ủy ban giải Nobel y học từng bị phê bình gay gắt về những giải cho các công trình… vô bổ.

Thật vậy, những công trình nghiên cứu cơ bản thể hiện sự thành công tuyệt mỹ về công nghệ sinh học nhưng chẳng đem lại lợi ích thiết thực gì cho bệnh nhân và cộng đồng nói chung. Mấy năm gần đây, một số nhà khoa học chất vấn tính thiết thực của giải Nobel y sinh học, vì họ cho rằng giải thưởng này chỉ ghi nhận những công trình nghiên cứu cơ bản và ngày càng xa rời thực tế của khoa học lâm sàng.

Có người thậm chí đề nghị một giải thưởng y sinh học khác thiết thực hơn! Năm nay, giải thưởng Nobel y sinh học đã ghi nhận một công trình khoa học lâm sàng thiết thực, và đã không phụ lòng nhà sáng lập Nobel khi ông viết trong di chúc rằng giải thưởng nên dành cho “những ai có cống hiến đem lại phúc lợi lớn cho con người”.

Một điều hết sức thú vị là các nhà khoa học được trao giải thưởng Nobel y sinh học năm nay không phải là những tên tuổi chói sáng trong trường khoa học quốc tế. Họ ít hay không công bố trên những tập san khoa học danh giá như Nature, Science hay Cell.

Riêng bà Đồ U U thì càng ít công bố trên các tập san khoa học danh giá ở phương Tây. Nhưng thành quả nghiên cứu của họ đem lại lợi ích cho hàng trăm triệu người trên thế giới, đó chính là thước đo của thành tựu sự nghiệp khoa học.

Tôi nghĩ giải thưởng Nobel y sinh học năm nay còn là một vinh danh gián tiếp cho y học cổ truyền. Đã từ lâu, y học cổ truyền chịu nhiều “tai tiếng”, thậm chí nhạo báng từ giới y học hiện đại. Nhưng trong thực tế thì đa số (xin nhấn mạnh: đa số) người dân trên thế giới vẫn dùng các biện pháp y học cổ truyền trong điều trị bệnh.

Ở châu Phi và châu Á, có lẽ 80% người dân vẫn dùng y học cổ truyền hằng ngày. Nhưng rất tiếc là khoa học hiện đại ít khi nào tìm hiểu hiệu quả của y học cổ truyền.

Có thể nói công trình của bà Đồ U U là y học cổ truyền, dựa vào kiến thức của y văn Trung Quốc trong nhiều thế kỷ trước, chứ không phải y học hiện đại. Thế nhưng thành công của bà đã cứu hàng trăm triệu người trên thế giới.

Ở Việt Nam ta cũng có y văn cổ, nhưng khai thác nguồn kiến thức này theo phương cách khoa học hiện đại vẫn chưa được làm tốt. Do đó, giải thưởng năm nay làm chúng ta nhận thức rằng nhiều thuật điều trị có khi chẳng tìm đâu xa, mà là cây cỏ và vi sinh vật ngay trước mặt chúng ta. ■

Giải Nobel Y Học Năm 2008 / 2023

06.10.2008

Viện Hàn Lâm Hoàng Gia Thụy Điển vừa công bố giải Nobel về lĩnh vực Y học. Giải thưởng năm nay được trao cho bác sĩ, nhà khoa học người Đức Harald zur Hausen, người phát hiện ra Virus gây ung thư cổ tử cung ( papilloma virus). Hai nhà khoa học người Pháp là Prançoise Barré-Sinoussi và Luc Montagnier cùng được vinh danh trong giải thưởng này với công lao trong nghiên cứu nguyên nhân gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (acquired immunodeficiency syndrome: AIDS) ở người – loại virus có tên human immunodeficiency virus mà ta quen gọi là virus HIV.

Ung thư do virus là lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của zur Hausen. Năm 1976 ông công bố bài báo với giả thuyết papillomavirrus (loại virus có thể xâm nhiễm và gây bệnh qua da và niêm mạc) có khả năng gây ung thư cổ tử cung (trong số các papillomavirus, một số có khả năng gây nhiễm qua đường sinh dục và có khả năng gây khối u). Các nghiên cứu tiếp theo cho thấy nhiều týp papillomavirus ở người là nguyên nhân của hầu hết các loại tiền ung thư và ung thư cổ tử cung. Một thời gian dài zur Hausen tập trung nghiên cứu vác-xin cho bệnh này. Ba muơi năm sau công bố giả thuyết bệnh, vào năm 2006, vác-xin phòng bệnh đã được biết đến rộng rãi trên thị trường.

Với những đóng góp khoa học này, Harald zur Hausen được trao các giải thưởng: Giải thưởng mang tên Robert Koch (1975); giải thưởng Charles S. Mott (1986); giải thưởng Paul-Ehrlich-và-Ludwig-Darmstaedter (1994); Huy chương Virchow của ĐH Wurzburg (2000); giải thưởng Đại thập tự (2004); phần thưởng William B. Coley cho nghiên cứu miễn dịch học cơ bản và ung thư (2006); giải Nobel y học – sinh lý học 2008.

Harald zur Hausen được các trường ĐH Chicago, Umeå, Praha, Salford, Helsinki và Erlangen-Nuremberg cấp bằng tiến sỹ danh dự.

Françoise Barré-Sinoussi sinh ngày 30 tháng 7 năm 1947 tại Paris (Pháp) và làm việc tại Viện Pasteur Paris từ đầu những năm 70. Bà nghiên cứu chuyên sâu về retroviruses. Những thành công trong nghiên cứu của bà đã giúp con người tìm ra virus HIV vào năm 1983. Cũng như những bệnh do vi sinh vật khác, việc tìm ra HIV là bước khởi đầu để con người tìm kiếm những phương pháp chẩn đoán và biện phát phòng, trị bệnh. Những kết quả nghiên cứu về hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), con đường lây truyền HIV từ mẹ sang con là những nội dung chính trong hơn 200 bài báo khoa học và hơn 250 báo cáo tại các hội nghị khoa học quốc tế mà bà là đồng tác giả. Cùng với những công trình đó, bà đã đào tạo, bồi dưỡng nhiều nhà khoa học, chuyên gia trẻ về HIV/AIDS cho khoa học thế giới.

Barré-Sinoussi là thành viên nhiều hiệp hội, tổ chức nghiên cứu HIV/AISD của Pháp và thế giới. Bà cũng là tư vấn cho Tổ chức Y tế thế giới (WHO).

Từ năm 1980, Barré-Sinoussi bắt đầu điều phối nhiều mạng lưới đa lĩnh vực thuộc các chương trinh phòng, chống HIV/AIDS tại các nước đang phát triển.

Với những đóng góp cho nền y học thế giới, ngày hôm nay vinh dự giành cho bà chính là giải Nobel Y học-Sinh lý học 2008 cùng với hai đồng nghiệp của mình, một người đồng hương (nhà virus học Luc Montagnier) và một GS người Đức, ông Harald zur Hausen.

Tuy vậy. hai nhà khoa học vẫn không dừng chỉ trích nhau sau đó cho đến khi nguyên tổng thống Pháp Mitterrand và nguyên tổng thống Mỹ Reagan gặp nhau và cho rằng sự việc cần được giải quyết. Các nhà khoa học thống nhất rằng công trạng nên được chia đều và cả hai tên gọi virus LAV và HTLV-III) được bỏ vào năm 1986 để thay bằng tên virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human immunodeficiency virus; HIV – cách viết theo tiếng Anh và virus de l’immunodéficience humaine (VIH) – tiếng Pháp). Tháng 11 năm 1990, Cơ quan bảo vệ tính liêm chính khoa học thuộc Viện y tế Hoa kỳ ủy quyền cho nhóm nghiên cứu của hãng Roche phân tích mẫu còn lưu trữ của Viện Pasteur và của Phòng thí nghiệm sinh học tế bào ung thư trong khoảng thời gian từ năm 1983 đến 1985. Kết luận được đưa ra là virus được Robert Gallo tìm thấy giống với những gì Montagnier đã phát hiện được trước đó.

Luc Montagnier là đồng sáng lập viên của Quỹ nghiên cứu và phòng chống AIDS thế giới, tham gia chỉ đạo chương trình hợp tác nghiên cứu virus quốc tế. Ông đã được trao hơn 20 giải thưởng khoa học lớn trong đó có phần thưởng cao quý, giải Nobel Y cho lĩnh vực Y học – Sinh lý học 2008.

Lê Minh Khôi & Nguyễn Bá Tiếp

Deustchlandfunk

Nobelprize.org [1]

Nobel Y Học 2022 Vinh Danh Cuộc Chiến Chống Bệnh Viêm Gan / 2023

Việc phát hiện ra virus viêm gan C đã làm sáng tỏ nguyên nhân các ca mắc bệnh viêm gan mạn tính, từ đó giúp tìm ra phương pháp xét nghiệm máu và loại thuốc kháng virus mới.

Chân dung các nhà khoa học đoạt giải Nobel Y học 2020 (trên màn hình, từ trái sang) Harvey Alter (Mỹ), Michael Houghton (Anh) và Charles Rice (Mỹ) trong cuộc họp báo công bố về giải thưởng ở Viện Karolinska, thủ đô Stockholm (Thụy Điển). (Ảnh: AFP/TTXVN)

Hai nhà khoa học người Mỹ Harvey J. Alter và Charles M. Rice cùng nhà khoa học người Anh Michael Houghton đã được công bố là chủ nhân của giải Nobel Y học năm 2020 với phát hiện về virus viêm gan C.

Trong thông báo ngày 5-10, Ủy ban Nobel thuộc Viện Karolinska của Thụy Điển cho biết giải thưởng vinh danh 3 nhà khoa học có đóng góp mang tính quyết định trong cuộc chiến chống lại căn bệnh viêm gan truyền qua đường máu, một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng của y tế toàn cầu vì gây ra bệnh xơ gan và ung thư gan ở nhiều người trên khắp thế giới.

Bộ ba nhà khoa học trên đã có những khám phá dẫn đến việc phát hiện virus mới gây bệnh viêm gan C.

Trước đó, việc phát hiện ra virus viêm gan A và B đã đạt được những bước tiến quan trọng, song giới khoa học chưa giải thích được nguyên nhân đa số các ca mắc bệnh viêm gan truyền qua máu.

Việc phát hiện ra virus viêm gan C đã làm sáng tỏ nguyên nhân các ca mắc bệnh viêm gan mạn tính còn lại, từ đó giúp tìm ra phương pháp xét nghiệm máu và loại thuốc kháng virus mới đem lại hy vọng sống cho hàng triệu người.

Nhà nghiên cứu y khoa và cũng là bác sỹ Harvey J. Alter làm việc tại Viện Y tế Quốc gia (NIH) thuộc Bộ Y tế và Nhân sinh Mỹ.

Trong khi đó, ông Charles M. Rice là chuyên gia về virus học tại Đại học Rockefeller. Ông từng được trao giải thưởng Lasker năm 2016 cùng với hai nhà khoa học Ralf Bartenschlager (người Đức) và Michael Sofia (người Mỹ).

Ông Michael Houghton là nhà khoa học làm việc tại Đại học Alberta của Canada. 

Từ năm 1901-2019, đã có 110 lần giải Nobel Y học được trao, trong đó có 12 phụ nữ từng được nhận giải này.

Sau giải Nobel Y học 2020 được công bố là sẽ là các lễ công bố giải Nobel Vật lý vào ngày 6-10, Nobel Hóa học ngày 7-10, Nobel Văn học ngày 8/10, Nobel Hòa bình ngày 9-10 và Nobel Kinh tế vào ngày 12-10.

Do ảnh hưởng của đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19, lễ trao các giải Nobel Y học, Vật lý, Hóa học, Văn học và Kinh tế theo truyền thống ở Stockholm không thể diễn ra như đã định. Thay vào đó, sự kiện này sẽ được tổ chức qua cầu truyền hình.

Trong khi đó, Viện Nobel Na Uy sẽ thu hẹp quy mô lễ trao giải Nobel Hòa bình dự kiến diễn ra tại thủ đô Oslo (Na Uy) vào tháng 12 tới cũng do tình hình dịch COVID-19./.

Theo Nguyễn Hằng (TTXVN/Vietnam+)

Từ Giải Nobel Y Học 2022, Con Đường Nào Cho Bệnh Nhân Ung Thư Việt Nam? / 2023

Theo đó, nhà miễn dịch học James P. Allison đã tìm ra loại protein CTLA-4 có chức năng kích thích khả năng của các tế bào miễn dịch T trong việc chống lại khối u nếu như được “thả phanh”. Với nguyên lý trên, nhà miễn dịch học Tasuku Honjo phát hiện ra loại protein PD-1 trong tế bào miễn dịch cũng có khả năng tương tự nhưng khác cơ chế hoạt động của CTLA-4.

Cơ chế hoạt động của protein PD-1 trong việc điều trị ung thư, phát hiện của ông Honjo. Ảnh: Twitter/Nobel Prize.

Trả lời báo chí, BS Lê Tuấn Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện (BV) Chợ Rẫy (TP.HCM) cho biết : “Trên bề mặt các tế bào bạch cầu lympho có những thụ thể được gọi là các điểm kiểm soát miễn dịch (chốt kiểm) hoạt động như những “công tắc” để điều hòa hoạt động giúp tránh các tế bào bạch cầu hoạt động quá mức sinh ra các bệnh tự miễn.

Tế bào ung thư có thể tạo ra một số chất để tắt “công tắc”, khiến tế bào bạch cầu lympho rơi vào trạng thái ngủ yên. Từ đó giúp chúng thoát khỏi sự tấn công của các tế bào miễn dịch. Các nhà khoa học đã tìm ra cơ chế này, tạo ra nền tảng cho liệu pháp miễn dịch trong ung thư” – BS Tuấn Anh cho biết.

Bằng việc lợi dụng hệ thống miễn dịch để chống lại tế bào ung thư, nhiều hãng dược phẩm lớn đã sản xuất ra các kháng thể đơn dòng như Pembrolizumab, Nivolumab, Atezolimumab, Durvalumab… để trung hòa các chất thủ phạm trên bề mặt tế bào ung thư, kích hoạt các tế bào bạch cầu lympho tăng hoạt động trở lại, giúp nhận diện và tiêu diệt tế bào ác tính.

Hiện tại, Bộ Y tế đã cấp visa lưu hành cho thuốc Pembrolizumab tại Việt nam và được chỉ định điều trị cho các trường hợp như:

(1) Bệnh nhân trưởng thành bị melanoma tiến triển (không thể cắt bỏ hoặc di căn);

(2) Điều trị bước đầu ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn ở người lớn;

(3) Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển tại chỗ hoặc di căn ở người lớn có tỷ lệ khối u (TPS) ≥ 1% và những người đã nhận được ít nhất một phác đồ hóa trị liệu trước đó.

Nhiều bệnh viện như BV Ung bướu TPHCM, BV K Hà Nội, BV Bình Dân (TPHCM)… đã triển khai liệu pháp trên.

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân ung thư nào cũng có thể được điều trị bằng phương pháp này mà cần phải làm một số xét nghiệm về mô bệnh học để xác định khả năng điều trị có hiệu quả hay không.

Bên cạnh đó một đợt dùng thuốc cũng khá tốn kém bởi mỗi lọ thuốc có giá hơn 62 triệu đồng. Mỗi lần bệnh nhân sử dụng 2 lọ thuốc, phác đồ dùng thuốc 3 tuần một lần và kéo dài 1 – 2 năm hoặc hơn. Chưa kể nhiều chi phí khác như xét nghiệm, dịch các loại…

Theo Đ.P

Lao động

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Nobel Y Sinh Học Năm 2022: Hành Trình Về Bệnh Do Ký Sinh Trùng / 2023 trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!