Xu Hướng 1/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 # Top 5 View | Ictu-hanoi.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 được cập nhật mới nhất trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

sách hàng đầu. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục bậc Tiểu học là góp phần đào tạo những con người lao động thông minh, linh hoạt, năng động, chủ động, sáng tạo và thích ứng. Bậc Tiểu học là nền tảng của giáo dục phổ thông và cũng là nền tảng của dân trí. Trên cơ sở đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với xu thế chung của cả nước về yêu cầu giáo dục hiện nay. Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Toán nói riêng là cần thiết. Phân môn Toán trong chương trình giảng dạy Toán lớp 2 chiếm một vị trí quan trọng trong bậc Tiểu học. Nó là nền tảng cho việc học tốt môn Toán ở các lớp tiếp theo của bậc Tiểu học và Trung học sau này. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu của chương trình Toán lớp 2. Từ những hạn chế của tâm lý lứa tuổi. Từ tình hình thực tiễn, trình độ nhận thức của học sinh tiểu học nói chung, của lớp tôi nói riêng, các em đa số " Giải toán có lời văn" còn yếu vì nhiều nguyên nhân, trong đó vẫn là : Do đặc điểm sinh lý lứa tuổi, các em thường vội vàng hấp tấp, nên đôi khi chưa hiểu kỹ đề bài đã vội vàng làm bài, dẫn đến kết quả chưa cao. Việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, bản thân tôi cũng như nhiều bạn đồng nghiệp còn băn khoăn trăn trở, làm thế nào để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. bản thân tôi cần phải nghiên cứu, tìm các biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bài toán một cách vững vàng; mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận thông qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện. Từ đó giúp các em hứng thú, say mê học toán. Với những lý do trên, tôi đã chọn giải pháp " Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2" II. THỰC TRẠNG: Thuận lợi: Được sự quan tâm của BGH trường. Các em có đầy đủ đồ dùng học tập và có một số em chuẩn bị bài trước khi đến lớp và có cùng một độ tuổi. Khó khăn:Với thực tế học sinh lớp tôi còn có một số em giải toán có lời văn thiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhiều khi làm bài chưa có kỹ năng phán đoán, suy luận, không biết làm thế nào ? Các em rất sợ học. Mà môn toán là môn "Thể thao trí tuệ" vừa giúp các em giải trí tinh thần, vừa giúp việc dạy tốt môn toán là điều cần thiết mà giáo viên cần quan tâm. Năm học 2012 - 2013 tôi được phân công dạy lớp 2. Lớp có 34 học sinh.. Cha mẹ các em đều làm nông nên việc hướng dẫn, nhắc nhở con em còn chưa được quan tâm lắm. Còn phó mặc cho nhà trường và giáo viên. Nên trong giờ học toán các em còn làm bài sai nhiều. Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm như sau: Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu TS % TS % TS % TS % 34 3 8,7 11 32,4 9 26,5 11 32,4 Để khắc phục những hạn chế và tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh. Tôi đã tiến hành một số biện pháp sau: III. BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1. Điều tra, phân loại đối tượng học sinh Qua điều tra đầu năm, tôi phân loại những em còn yếu về loại toán điển hình nào để tôi kịp thời kèm cặp các em. Lớp tôi có em: Thủy, Minh, Đạt ,Tú , Trường , Hải , Ly, Sơn , là những em giải toán còn yếu. Các em thường sợ làm loại toán này. Các em không biết giải, hay trả lời sai, làm tính không đúng. Tôi luôn quan tâm động viên các em học sinh để các em chăm học, tích cực làm bài , các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, phán đoán tìm cách giải đúng. Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viên cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải. Tôi thường xuyên kiểm tra bài làm của em trên lớp, chấm chữa cùng với học sinh để củng cố kiến thức. Tuyên dương khen thưởng kịp thời bằng điểm số nếu các em có cố gắng (mặc dù chưa đạt yêu cầu) để các em phấn khởi học tập, xoá đi ấn tượng sợ giải toán. Về nhà : Tôi yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở lớp để các em yếu kém nắm vững cách giải. Lần sau gặp loại bài như thế là làm được ngay. Tôi còn yêu cầu phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con học ở nhà giúp các em làm đầy đủ bài tập cô giao. Ngoài ra tôi còn giao cho những em giỏi toán ở lớp mỗi em giỏi giúp một em kém. Lập thành đôi bạn cùng tiến bằng cách : Giờ truy bài kiểm tra bài làm của bạn. Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp giải toán. Khi giao bài về nhà không nên giao nhiều, chỉ cần giao 1 đến 2 bài cho học sinh làm thôi, tôi lồng thêm những bài toán vui gắn với thực tế giúp các em hứng thú học toán hơn. Giảng bài mới kết hợp củng cố, vận dụng kiến thức đã học : Giảng bài mới trong tiết học Toán hết sức quan trọng. Học sinh có vận dụng luyện tập giải Toán đúng hay sai là ở chỗ này. Do vậy, trong khi dạy, tôi luôn bảo đảm truyền thụ đủ nội dung kiến thức của bài học bằng cách. Chuẩn bị bài hết sức chu đáo, cẩn thận.Soạn bài trước một tuần để có thêm thời gian nghiên cứu, hiểu kỹ yêu cầu nội dung của bài học. Khi soạn bài, tôi luôn tìm hướng giảng bài mới một cách dễ hiểu nhất đối với trò mà vẫn phát huy được tư duy của trò, lấy "học sinh làm trung tâm". Với cách thực hiện như thế, học sinh sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng mà đầy đủ kiến thức, được củng cố kiến thức cũ có hệ thống, vận dụng giải Toán sẽ linh hoạt, không bị gò ép phụ thuộc, tạo cho học sinh có thói quan chủ động tích cực trong giải Toán a) Ở lớp một: Các em đã học các bài toán đơn giản : giải bẳng 1 phép tính về thêm bớt nhiều hơn 1 số đơn vị. Loại toán này đơn giản. Nhưng cũng phải củng cố cho các em nắm vững thì mới làm được các bài toán ở lớp trên. Ví dụ: - An cắt được 5 bông hoa, Lan cắt được nhiều hơn An 2 bông hoa. Hỏi Lan cắt được mấy bông hoa? - Lam có 7 quyển vở, Nhàn có 5 quyển vở. Hỏi ai có nhiều vở hơn và nhiều hơn bao nhiêu quyển vở ? Đây là các bài toán có dữ kiện cụ thể. Các em cần suy nghĩ làm tính cộng hay tính trừ là đúng và chú ý dựa vào câu hỏi mà trả lời cho đúng. b) Ở lớp hai : Các em được ôn lại các dạng toán lớp 1 và luyện thêm các dạng toán này với các số trong phạm vi 100, giúp các em hiểu mối quan hệ giữa các đối tượng với các dữ kiện đơn giản của bài toán. Từ đó hình thành tư duy toán cho học sinh, giúp các em phân tích, tổng hợp, giải được các dạng toán nhanh, chính xác. Bước đầu có kỹ năng trình bày bài toán. c) Hình thức rèn luyện : Học sinh nhận xét dữ kiện, tóm tắt đề toán, tìm ra cách giải với cách làm này học sinh mạnh dạn, tự tin vào bản thân, dần dần ham thích giải toán, để thể hiện khả năng chính mình. Vai trò của người thầy rất quan trọng. Lời phát biểu của các em dù đúng hay sai, tôi cũng phải có lời động viên hợp lý. Nếu học sinh phát biểu sai, hoặc chưa đúng, tôi động viên "gần đúng rồi, em cần suy nghĩ thêm nữa, thì sẽ đúng hơn ..." giúp các em cố gắng suy nghĩ làm bằng được, chứ không nên nói "sai rồi, không đúng ..." làm mất hứng của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học. Bước này là bước quan trọng giúp học sinh không sợ giải toán, thích thi nhau làm để khẳng định mình, từ đó có kỹ năng giải toán vững chắc với lời giải thông thường . Ví dụ 1: Mảnh vải xanh dài 55 dm. Mảnh vải đỏ dài hơn mảnh vải xanh 9 dm. Hỏi mảnh vải đỏ dài bao nhiêu đề- xi- mét ? + Có học sinh giải như sau : Mảnh vải đỏ dài là : 55 + 9 = 64 (mảnh vải) Đáp số : 64 mảnh vải Tôi hỏi : Đơn vị của bài toán là gì ? Học sinh trả lời : đề xi mét Tôi hỏi : Vậy trong bài giải con đã ghi đúng tên đơn vị của bài toán chưa ? Lúc này học sinh sẽ nhận ra chỗ thiếu sót trong bài giải của mình và tự sửa lỗi sai đó. Ví dụ bài 3 trang 63: Mảnh vải màu xanh dài 34dm, mảnh vải màu tím ngắn hơn mảnh vải màu xanh 15dm. Hỏi mảnh vải màu tím dài bao nhiêu đê-xi-mét? Một số học sinh trình bày bài giải như sau: Số dm mảnh vải màu tím dài là: 34 - 15 = 19 (dm) Đáp số: 19 dm Hoặc: Mảnh vải màu tím là: 34 - 15 = 19 (dm) Đáp số: 19 dm Tôi liền đưa ra các bài học sinh giải lên bảng, chỉ ra từng chỗ sai cụ thể cho học sinh và để học sinh so sánh đối chiếu các bài với nhau: bài trình bày sai- bài trình bày đúng để học sinh thấy được chỗ sai của mình. Bài giải được trình bày như sau: Độ dài mảnh vải màu tím là: 34 - 15 = 19 (dm) Đáp số: 19 dm Hoặc: Mảnh vải màu tím dài là: 34 - 15 = 19 (dm) Đáp số: 19 dm Thường khi giải bài toán có lời văn với các số đo độ dài, học sinh thường viết cả tên đơn vị cùng với số đo hoặc viết tắt tên đơn vị đo ở câu lời giải. Đối với bài toán có lời văn mà có số đo độ dài, tôi phải hướng dẫn học sinh cách trình bày bài giải cho đúng từ, câu trả lời đến các phép tính. Ví dụ 3 : Thùng thứ nhất đựng 25 lít dầu. Thùng thứ hai đựng 30 lít dầu. Hỏi thùng nào đựng nhiều dầu hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít ? Có học sinh giải như sau : Số lít dầu thùng đựng nhiều hơn là : 30 - 25 = 5 (lít) Đáp số : 5 lít Tôi hỏi : Ta cần tìm điều gì ? Học sinh trả lời : Thùng nào đựng nhiều hơn và nhiều hơn bao nhiêu lít ? Tôi lại hỏi tiếp : Câu trả lời này đã nói rõ điều đó chưa ? Còn thiếu ý nào ? Lúc này học sinh sẽ nhận ra trong câu trả lời này chưa nêu được thùng nào đựng nhiều hơn và phải bổ sung và chữa vào bài giải là : Thùng thứ hai đựng nhiều hơn và nhiều hơn là : 30 - 25 = 5 (l) Đáp số : 5 l Bên cạnh việc cung cấp đủ trọng tâm bài học, rèn cách luyện tập thành thạo, tôi còn luôn quan tâm tới việc mở rộng, nâng cao kiến thức từ chính những bài tập trong SGK, vở bài tập toán. 3. Phát triển, tìm tòi nội dung kiến thức sách giáo khoa : Thông thường giáo viên chỉ chú ý tới việc học sinh làm đủ, làm đúng các bài tập trong SGK, vở bài tập theo quy định của tiết học, nên đôi khi gặp những trường hợp khác lạ là học sinh lúng túng vì quen giải theo khuôn mẫu, ít tư duy tìm tòi sáng tạo. Vì thế để học tốt giải toán 2, tôi luôn tìm cách mở rộng ngay sau một bài tập nào đó trong số bài luyện vào buổi chiều, tuy nhiên ở mức độ hợp với trình độ học sinh trong lớp, các đối tượng tiếp thu được. Khi học sinh làm đủ 100% số bài tập quy định chưa hẳn là đã thành thạo cách giải loại toán đó, nhất là học sinh trung bình, yếu. Vì vậy, tôi đã cố gắng đưa nội dung kiến thức vào bài tập thật phong phú, đa dạng dựa vào bài tập có sẵn, vẫn xoay quanh nội dung bài vừa học hoặc vừa luyện. Bài toán đưa ra các hình thức khác nhau, tôi khai thác được tư duy của học sinh. Các dạng toán có thể thực hiện được điều này như + Dạng toán về nhiều hơn, ít hơn. + Dạng toán về số bị trừ, tìm số hạng trong tổng. Ví dụ 1 : Bài toán về nhiều hơn. Nội dung bài tập là : Anh 25 tuổi, anh hơn em 6 tuổi. Hỏi em bao nhiêu tuổi ?. + Để giải được bài này, học sinh phải hiểu rõ yêu cầu của bài toán. Đã biết tuổi của anh, biết số tuổi anh hơn em. Muốn tìm số tuổi của em phải làm thế nào ? + Học sinh phải tự phân tích đề toán và giải : Tuổi của em là : 25 - 6 = 19 (tuổi) Đáp số : 19 tuổi Với việc mở rộng kiến thức này, học sinh sẽ linh hoạt hơn khi giải toán không nhất thiết cứ nhiều hơn là phải làm tính cộng. Ví dụ 2 : Bao thứ nhất đựng được 50 kg gạo, như vậy bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 15 kg gạo. a) Tính số gạo của bao thứ hai. Đã biết yếu tố gì ? Số gạo của bao thứ nhất và biết bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 15 kg. Lúc này, học sinh phải hiểu bao thứ nhất đựng ít hơn bao thứ hai 15 kg nghĩa là bao thứ hai đựng nhiều hơn bao thứ nhất 15 kg.Vậy tìm số gạo của bao thứ hai ta phải làm như thế nào? Học sinh Bao thứ hai đựng số gạo là : 50 + 15 = 65( kg) Đáp số : 65 kg Đối với học sinh khá, giỏi sẽ làm nhanh hơn, vì vậy tôi đã mở rộng bài tập này cho học sinh khá giỏi. Tuy nhiên cũng có thể có những học sinh trung bình giải quyết được, tôi rất khuyến khích. Như vậy, trong cùng một khoảng thời gian dù học sinh trung bình giải được phần này, vẫn còn một phần bài tập tiếp theo để học sinh khá, giỏi giải tiếp. Đối với học sinh giỏi tôi có thể nêu thêm: b. Cả hai bao đựng bao nhiêu ki -lô- gam gạo ? 4. Từ tư duy đúng, tìm được cách giải đúng giúp các em trình bày bài giải đúng. Hợp lý về lời giải, về phép tính, cách ghi tên đơn vị và ghi đáp số để hoàn thiện bài toán. Bước này tuy đơn giản nhưng tương đối khó với học sinh. Đó là lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài để trả lời (phép tính tìm gì ?) theo thứ tự. Lời giải: Phép tính - lời giải - phép tính - đáp số. Cần lưu ý: Phép tính trong giải toán có lời văn không ghi tên đơn vị (danh số) đó là phép tính trên số nên đặt tên đơn vị trong vòng đơn để giải thích, mục đích thực hiện phép tính. Ví dụ: Lớp 2A có 37 học sinh, trong đó có 18 học sinh nữ. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh nam? Giáo viên phải đưa ra 1 số câu hỏi đàm thoại gợi ý học sinh yếu, kém, TB suy đoán, lựa chọn cách giải đúng. Trước tiên phải hướng dẫn học sinh tóm tắt đầu bài. Tóm tắt: Lớp 2A có : 37 học sinh Nữ : 18 học sinh Nam : học sinh? Hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn chính xác. Giải Số học sinh nam lớp 2A có là: 37 - 18 = 19 (học sinh) Đáp số : 19 học sinh 5. Tính cách giải đúng chưa đủ, giáo viên còn giúp học sinh tìm nhiều cách đặt lời giải để phát huy trí lực học sinh tạo điều kiện cho tư duy toán phát triển. Bước này đối với học sinh yếu, kém, trung bình giải toán là khó khăn. Song người giáo viên phải hướng dẫn gợi mở, giúp học sinh thể hiện được khả năng giải toán của mình là cần thiết. Ví dụ: Lan cắt được 46 bông hoa, Hoa cắt ít hơn Lan 9 bông hoa. Hỏi Hoa cắt được bao nhiêu bông hoa? Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài toán. Tóm tắt đầu bài bằng cách vẽ sơ đồ (nếu vẽ được) để tìm ra cách giải đúng, và nhiều cách khác. Tóm tắt Lan : 46 bông hoa Hoa cắt ít hơn Lan : 9 bông hoa Hoa cắt : bông hoa? Giải cách 1 Hoa cắt được số bông hoa là: 46 - 9 = 37 ( bông hoa) Đáp số: 37 bông hoa Nhìn vào sơ đồ các em tìm lời giải khác 46 bông hoa 9 bông hoa Lan ? bông hoa Hoa Có em sẽ giải như sau : Giải cách 2 Số bông hoa Hoa cắt được là: 46 - 9 = 37 ( bông hoa) Đáp số: 37 bông hoa Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu : Thực ra hai lời giải này cùng là tìm số bông hoa của Hoa cắt .Dù các em có nhìn vào sơ đồ thì vẫn là tìm số bông hoa của hoa cắt:Tôi cho học sinh nhận xét. Các em phải chú ý tên đơn vị của mỗi phép tính. Từ đó học sinh tìm được cách giải toán triệt để bằng nhiều cách đặt lời giải khác nhau. Học sinh nắm chắc đề toán, hiểu kỹ đề, để tìm cách giải khác có lời văn chính xác, phát triển tư duy toàn diện. 6. Kết hợp giải toán là rèn luyện kỹ năng tính toán giúp học sinh giải toán đúng tránh nhầm lẫn khi tính toán. Vì có những em nhiều khi cách giải đúng nhưng tính toán sai dẫn đến kết quả bài toán sai. Vậy tôi phải nhắc nhở học sinh khi làm bài phải tính toán chính xác, trình bày khoa học rõ ràng. Nếu là phép + - trong bảng học thuộc để vận dụng nhanh. Nếu là các phép + - ngoài bảng các em phải đặt tính cột dọc. Làm ra nháp cẩn thận, kiểm tra kết quả, đúng mới viết vào bài làm. Cần rèn luyện kỹ năng tính nhẩm, tính viết thành thạo cho học sinh trong quá trình giải toán, để hoàn thiện bài giải. 7. Chấm chữa kịp thời để uốn nắn, khắc sâu kiến thức, rèn kỹ năng giải toán. Bậc tiểu học có đặc điểm riêng về tâm sinh lý lứa tuổi nên việc chấm chữa kịp thời của giáo viên đối với trẻ là rất phù hợp, nó tác động ngay tới hành động của trẻ. Chấm chữa kịp thời của giáo viên trong giờ học toán là rất quan trọng. Qua chấm chữa, giáo viên nắm được tình hình chất lượng tiếp thu bài học và bản thân học sinh cũng tự thấy mình hiểu chỗ nào, chỗ nào chưa hiểu. Cụ thể trong tiết toán tôi đã thường xuyên thực hiện như sau : Sau khi cung cấp kiến thức bài học, học sinh vận dụng giải quyết các bài tập trong "Vở bài tập toán 2". Tôi luôn cố gắng đảm bảo 100 học sinh trong lớp đủ bài các bài tập. Đối với học sinh khá giỏi thì dễ dàng, còn đối với học sinh trung bình để làm đúng 100% số bài tập ngay tại lớp là khó khăn. Vì vậy trong quá trình học sinh đang làm bài tập, tôi đã quan sát việc làm bài của số học sinh này nhiều hơn, kịp thời phát hiện những chỗ sai để uốn nắn học sinh theo dõi bài chữa trên bảng, biết chỗ sai để học sinh tự chữa ; có thể dùng một vài câu hỏi nhỏ gợi ý. Tuy nhiên gặp những bài khó, học sinh có lỗi lớn về đường lối giải, nhiều học sinh sai thì tôi yêu cầu học sinh nhận xét lỗi sai ở chỗ nào ? Cách sửa thế nào ? Thường thì tôi dùng học sinh có lỗi sai đó nhận xét và sửa trước, nếu học sinh làm được điều đó có nghĩa là cùng một lúc tôi đã củng cố cho học sinh đó và đồng thời chữa chung cho nhiều em khác. Còn gặp bài khó, học sinh lúng túng, tôi dùng câu hỏi gợi ý hoặc dùng học sinh giỏi của lớp tham gia chữa bài. Trong tiết toán, thời gian có hạn, tôi chú ý chấm chữa cho học sinh trung bình, yếu và chú ý tới những lỗi sai mà học sinh mắc nhiều. Với cách làm như vậy lỗi sai không bị kéo dài, mà học sinh có thói quen làm toán đúng, chủ động giải. Tôi cố gắng chữa triệt để những lỗi sai bằng cách : + Học sinh chữa lỗi sai nhỏ như : Tên đơn vị, kết quả ... vào ngay trong vở "Bài tập toán 2", lỗi lớn như sai cách giải, câu trả lời chưa rõ ý thì chữa ngay vào vở toán khác do lớp quy định. Sau đó tôi kiểm tra chấm chữa, nhận xét phần chữa của học sinh, học sinh phải tự làm bài đó một lần nữa để khắc sâu bài học. Có những học sinh chữa tới hai lần mới đúng cũng được tôi kiểm tra triệt để, cuối cùng phải chữa đúng mới thôi. + Tôi rất chú ý coi trọng tới việc chữa bài của học sinh. Khi học sinh chữa bài, tôi yêu cầu học sinh ngoài việc chữa đúng còn phải trình bày lưu loát, sạch đẹp, rõ ràng hơn. Do đó mà học sinh chữa bài rất thận trọng, chính điều này giúp học sinh nhớ rất kỹ bài giải, lần sau gặp dạng toán khó học sinh rất ít sai sót. IV. KẾT LUẬN Trong học kỳ I vừa qua, tôi đã thực hiện những biện pháp này giúp học sinh yếu kém, trung bình về giải toán có nhiều tiến bộ trong giải toán rõ rệt. Các em từ chỗ sợ học toán, ngại giải toán đến chỗ các em không ngại nữa mà lại thích giải toán để khẳng định khả năng chính mình. Đầu năm học, lớp tôi có những em yếu toán như em : Thủy, Minh, Đạt ,Tú , Trường , Hải , Ly, Sơn , các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp để tìm ra cách giải toán và có nhiều tiến bộ đáng kể. Những con số trên để thể hiện phần nào áp dụng kinh nghiệm của tôi trong việc bồi dưỡng học sinh yếu giải toán. Bên cạnh sự sáng tạo tìm tòi trong giảng dạy. Với cách dạy trên , học sinh hứng thú học tập, tích cực chủ động học tập theo năng lực cá nhân, học sinh biết vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết vấn đề một cách linh hoạt sáng tạo. Học sinh có thói quen lựa chọn cách giải tốt nhất cho bài làm của mình, tạo điều kiện phát triển tư duy, năng lực tự học, góp phần nâng cao chất lượng Kết quả thi giữa kì II vừa qua có chuyển biến rõ, tôi thấy hiệu quả rất khả quan, số học sinh giỏi được tăng lên đáng kể, số học sinh yếu không còn em nào. Cụ thể: Tổng số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 33 18/7 54,6 11/4 33,3 4 12,1 / / Mặc dù bản thân đã dành nhiều thời gian tìm tòi rút kinh nghiệm trong các tiết dạy, tham khảo ý kiến lãnh đạo đồng nghiệp song trong quá trình thực hiện giải pháp này không tránh khỏi những sai sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến giúp đỡ của Ban giám hiệu và các bạn đồng nghiệp giúp giải pháp của tôi được hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành cảm ơn! Lạc Xuân, tháng 3 năm 2013 Người viết Trần Thị Ngọc Dung Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO NHÀ TRƯỜNG Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO PHÒNG GIÁO DỤC ............................................................................................................................

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2

Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNGGIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 2

I. ĐẶT VẤN ĐỀ Như chúng ta đã biết, mục tiêu giáo dục là quốc sách hàng đầu. Xuất phát từmục tiêu giáo dục bậc Tiểu học là góp phần đào tạo những con người lao động thôngminh, linh hoạt, năng động, chủ động, sáng tạo và thích ứng. Bậc Tiểu học là nền tảngcủa giáo dục phổ thông và cũng là nền tảng của dân trí. Trên cơ sở đổi mới phươngpháp dạy học phù hợp với xu thế chung của cả nước về yêu cầu giáo dục hiện nay.Việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Toán nói riêng là cần thiết. Phân môn Toán trong chương trình giảng dạy Toán lớp 2 chiếm một vị trí quantrọng trong bậc Tiểu học. Nó là nền tảng cho việc học tốt môn Toán ở các lớp tiếptheo của bậc Tiểu học và Trung học sau này. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu của chương trình Toán lớp 2. Từ những hạn chếcủa tâm lý lứa tuổi. Từ tình hình thực tiễn, trình độ nhận thức của học sinh tiểu họcnói chung, của lớp tôi nói riêng, các em đa số ” Giải toán có lời văn” còn yếu vì nhiềunguyên nhân, trong đó vẫn là : Do đặc điểm sinh lý lứa tuổi, các em thường vội vànghấp tấp, nên đôi khi chưa hiểu kỹ đề bài đã vội vàng làm bài, dẫn đến kết quả chưacao. Việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở Tiểu học nói chung và học sinh

lớp 2 nói riêng, bản thân tôi cũng như nhiều bạn đồng nghiệp còn băn khoăn trăn trở,làm thế nào để nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2. bản thântôi cần phải nghiên cứu, tìm các biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bàitoán một cách vững vàng; mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận thông quacách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện. Từ đó giúp cácem hứng thú, say mê học toán. Với những lý do trên, tôi đã chọn giải pháp ” Một sốbiện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2″II. THỰC TRẠNG: Thuận lợi: Được sự quan tâm của BGH trường. Các em có đầy đủ đồ dùng họctập và có một số em chuẩn bị bài trước khi đến lớp và có cùng một độ tuổi.Khó khăn:Với thực tế học sinh lớp tôi còn có một số em giải toán có lời vănthiếu chính xác, chưa đúng, tính toán còn sai, nhiều khi làm bài chưa có kỹ năng phánđoán, suy luận, không biết làm thế nào ? Các em rất sợ học. Mà môn toán là môn“Thể thao trí tuệ” vừa giúp các em giải trí tinh thần, vừa giúp việc dạy tốt môn toán làđiều cần thiết mà giáo viên cần quan tâm.Năm học 2012 – 2013 tôi được phân công dạy lớp 2. Lớp có 34 học sinh Chamẹ các em đều làm nông nên việc hướng dẫn, nhắc nhở con em còn chưa được quantâm lắm. Còn phó mặc cho nhà trường và giáo viên. Nên trong giờ học toán các emcòn làm bài sai nhiều.1Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm như sau:Tổng sốHS Giỏi Khá Trung bình Yếu TS % TS % TS % TS % 34 3 8,7 11 32,4 9 26,5 11 32,4 Để khắc phục những hạn chế và tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng giải toáncó lời văn cho học sinh. Tôi đã tiến hành một số biện pháp sau:III. BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN1. Điều tra, phân loại đối tượng học sinhQua điều tra đầu năm, tôi phân loại những em còn yếu về loại toán điển hình nàođể tôi kịp thời kèm cặp các em.Lớp tôi có em: Thủy, Minh, Đạt ,Tú , Trường , Hải , Ly, Sơn , là những em giảitoán còn yếu. Các em thường sợ làm loại toán này. Các em không biết giải, hay trả lờisai, làm tính không đúng. Tôi luôn quan tâm động viên các em học sinh để các emchăm học, tích cực làm bài , các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, phánđoán tìm cách giải đúng. Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viên cho các em suy nghĩ tìm ra cách giải.Tôi thường xuyên kiểm tra bài làm của em trên lớp, chấm chữa cùng với học sinh để

Kết quả thi giữa kì II vừa qua có chuyển biến rõ, tôi thấy hiệu quả rất khả quan,số học sinh giỏi được tăng lên đáng kể, số học sinh yếu không còn em nào.

Cụ thể:Tổngsố HS Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 3318/7 54,6 11/4 33,3 4 12,1 / / Mặc dù bản thân đã dành nhiều thời gian tìm tòi rút kinh nghiệm trong cáctiết dạy, tham khảo ý kiến lãnh đạo đồng nghiệp song trong quá trình thực hiện giảipháp này không tránh khỏi những sai sót nhất định. Rất mong nhận được sự đóng gópý kiến giúp đỡ của Ban giám hiệu và các bạn đồng nghiệp giúp giải pháp của tôi đượchoàn chỉnh hơn. Xin chân thành cảm ơn! Lạc Xuân, tháng 3 năm 2013 Người viết12Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net

13Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO NHÀ TRƯỜNG ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO PHÒNG GIÁO DỤC …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………14Diễn đàn dạy và học: http://buiphan.net …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… 15

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3

– Người giáo viên không phải chỉ là một người thợ làm theo những thao tác một cách máy móc mà phải phấn đấu tìm tòi, suy nghĩ những phương pháp tốt nhất và phấn đấu trở thành giáo viên giỏi. Người giáo viên dạy giỏi phải có năng lực và nghiệp vụ sư phạm để học sinh phát huy tới đa năng lực suy nghĩ, nhận xét sáng tạo và cẩn thận của mình.

Để phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học được tiến hành theo hướng lấy học sinh làm trung tâm chủ thể của hoạt động học. Thầy giáo là nhân tố quyết định chất lượng nhà trường, là người tổ chức kiểm tra đánh giá hoạt động của học sinh nên người giáo viên phải biết sử dụng hợp lý và có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật trong dạy học.

2. Xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu lý luận.

– Ngày nay việc dạy toán ở tiểu học không chỉ hạn chế ở việc rèn luyện kỹ năng kỹ xảo tính toán, đo đạc mà còn trang bị cho học sinh một số kiến thức lý thuyết, không những kiến thực cụ thể mà cả những kiến thức trừu tượng.

-Trong dạy học toán ở tiểu học, giải toán có lời văn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách củng học sinh tiểu học giải toán giúp chọ sinh củng cố, vận dụng kién thức, kỹ năng về học toán đồng thời giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu điểm, khắc phục thiếu sót.

là nhân, giảm đi số lần là chia và chỉ có một phép tính duy nhất nên hs không gặp khó khăn lắm trong quá trình giải toán. Trong sáng kiến này tôi muốn đề cập đến một số dạng toán hợp cơ từ 2 đến 3 phép tính. 1. học sinh thường lúng túng trong việc tón tắt đề bài. * Nguyên nhân: Hs khong đọc kỹ đề bài, đặc biệt là những em học kém, chưa hiểu dạng đề bài vì vậy không tóm tắt đựơc bài toán. - Cũng có những lúc trong 1 tiết dạy lượng bài hơi nhiều sợ không đủ thời gian nên gv chưa hướng dẫn tỉ mỉ và chưa quan tâm đến mọi đối tượng hs có lúc giáo viên đưa câu hỏi, gợi mở quá sớm không phát huy được sự suy luận của hs hoặc đưa ra câu hỏi không sát với nội dung bài nên một số hs yếu không trả lời được dẫn đến tình trạng nhàm chán, căng thẳng hoặc có thể một số hs không cần tóm tắt mà làm bừa bài tóan nên giáo viên không bao quát hết. + Biện pháp. giáo viên cần yêu cầu hs đọc kỹ đầu bài đưa ra hệ thống câu hỏi dành cho cả đối tượng: giỏi, khá , trung bình, yếu đặc biệt những hs yếu cần có những câu hỏi gợi mở và cụ thể hơn Ví dụ: Bài 1 (50) Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh. Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu bưu ảnh? Đối với hs khá giỏi, gv có thể cho hs tự tóm tắt sau đó nêu miệng cách tóm tắt hoặc đưa ra cách tóm tắt dễ hiểu nhất - Đối với hs trung bình gv cần đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý bài toán cho biết gì? và hỏi gì? y/c hs tóm tắt ngắn gọn hoặc hỏi: Anh có bao nhiêu bưu ảnh, số bưu ảnh của em biết chưa, cả 2 anh em có bao nhiêu bưu ảnh. - Đối với hs yếu kém, gv cần cho hs đó đọc lại đề toán 1 lần nữa rồi đặt câu hỏi gợi mở, Anh có bao nhiều bưu ảnh? Số bưu ảnh của em như thế nào. So với số bưu ảnh của anh? Bài toán yêu cầu tìm gì? Cuối cùng cho từng đối tượng hs nêu cách tóm tắt của mình. Sẽ có hs tóm tắt là: Anh có: 15 bưu ảnh Enm có: ít hơn anh 7 bưu ảnh Cả hai anh em....bưu ảnh Lúc này giáo viên lại hd cho hs nhận xét và sửa tóm tắt cho chính xác ngắn gọn và dễ hiểu nhất. Tóm tắt: Anh: 15 bưu ảnh Em: ít hơn 4 bưu ảnh ?bưu ảnh Hoặc: Anh 15 Bưu ảnh Em: 7 bưu ảnh ?bưu ảnh * Với dạng toán giải bằng hai phép tính nhưng có nhiều dữ kiện phức tạp hơn VD: bài 1 (52) : Một bến xe có 45 ô tô. Lúc đầu có 18 ô tô rời bến, sau đó có thêm 1 ô tố nữa rời bến. Hỏi bến xe đó còn lại bao nhiêu ô tô? Hd hs tóm tắt Cách 1: Có : 45 ô tô Rời bến làn 1 : 18 ô tô Rời bến lần 2 : 17 ô tô Còn lại : ?ô tố Cách 2 45 ô tô 1 8ô tô 17 ô tô còn ? ô tô - Theo 2 cách tóm tắt này gv phải hướng dẫn cho hs biểu được rời bến có nghĩa là trừ đi. Dạng 1: Ví dụ: Bài 2 (128) có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao có bao nhiêu kg gạo? Hướng dẫn hs tóm tắt 7 bao : 28 kg 5 bao : kg ? Hướng dẫn hs hiểu 28 kg đựng đèu trong 7 bao ? có nghĩa là 7 bao đựng đựoc 28kg? để tránh hs hay toán tắt kiểu: 28L 7bao 5bao: ? kg * Dạng 2: Vi dụ: Bài 2 (167) Có 45 học sinh xếp thành 9 hàng đều nhau Hỏi có 60 học sinh thì xếp được bao nhiêu hàng như thế? Hướng dẫn tóm tắt: 45 học sinh: 9 hàng 60 học sinh: ? hàng Với dạng toán này giáo viên cần hướng dẫn hs xác định dạng toán rút về đơn vị dạng 1 hay dạng 2 để tóm tắt và định hướng cách giải. (T176) Ví dụ: Một cửa hàng có 1245 cái áp ,cửa hàng đã bán 1/3 số áo hỏi cửa hàng đó còn lại bao nhiêu áo. - Với dạng này hs yếu kém thường không hiểu đã bán 1/3 là gì? hoặc chỉ cần thực hiện phép chia 1245: 3 là ra kết quả số áo còn lại nêu giáo viên phải hướng hs cách toám tắt nào cho dễ hiểu nhất. 1.245 cái áo đã bán còn lại - GVHD: toàn bộ đoạn thẳng là số áo của cửa hàng có (1245 áo) hỏi Hs: Cửa hàng đã bán baonhiêu áo ? HSTL: đã bán đi 1/3 số áo Hướng dẫn: Bán đi 1/3 có nghĩa là chia số đó ra làm 3 phần bằng nhau và bán đi 1 giờ, còn lại 2 phần như tóm tắt. Hs nhìn vào sơ đồ sẽ thấy mình tìm số đó còn lại phần tìm số khác đã bán trước. Qua một số ví dụ cụ thể trên chúng ta thấy việc phân tích đề bài là một vấn đề rất quan trọng, phân tích cho hs hiểu được vào dề là từ tư duy cụ thể trực quan qua phân tích để hs biết tư duy trừu tượng khi đã thấy được cái đã cho, cái cần tìm thì hs tóm tắt bài toán sẽ nhanh về chính xác luôn. 2. Hs thường khó khăn khi xác định hướng giải. Nguyên nhân: - Hs không nắm được mối liên hệ giữa các giữ kiện - Do hs không đọc kỹ đề bài nên chưa hiểu nội dung bài nói gì? -Từ không hiểu gì dẫn đến không tóm tắt được bài toán - Từ những vấn đề trên nên hs khó tìm ra hướng giải. Biện pháp. - Hs phải đọc kỹ đề bài, nhất là những hs yếu trước khi hỏi hướng giải phải cho em đó đọc lại đề bài lần nữa để từ đó nắm chắc đựoc môi quan hệ giữa các giữ kiện của đầu bài với yếu tố phải tìm. - Gv hướng dẫn hs tóm tắt bài toán bằng cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất (thường là tóm tắt bằng trực quan sơ đồ để từ đó hs tìm ra hướng giải) . - Khi hướng dẫn hs giải toán có lời văn gv cần cho hs đọc kỹ đề bài, trong những dạng toán không giống toán mẫu giáo viên phải hướng dẫn, gợi mở đẻ giúp hs định hướng bài toán đó thuộc dạng toán nào đã học từ đó hs sẽ hình dung ra cách giải đã học., Với hs không giải đựoc bài toán gv không làm thay mà phải gợi ý, hd bằng hệ thống câu hỏi gợi mở, như: Bài toán hợp này được gộp của hai dạng toán nào hs dể nêu được thì gv nêu dạng một là tìm một trong các phần bằng nhau của một số vậy phải làm bằng phép tính gì? Dạng 2 là toán tìm tổng hoặc tìm hiệu. Vậy phải làm bằng phép tính gì? (cộng hoặc trừ) Chú ý gv cần đinh hướng những câu hỏi phải có nội dung phù hợp với tất cả đối tượng hs. Ví dụ: Bài 3 (161) Lần đầu người ta chuyển 27150 kg thóc vào kho lần sau chuyển được số thóc gấp đôi lần đầu. Hỏi cả hai lần chuyển vào kho đuợc bao nhiêu kg thóc? - Gv gọi 2 - 3 học s đọc bài toán, lớp đọc thầm -HD hs trung bình và yếu cách tóm tắt bằng các câu hỏi gợi ý để giúp hs đưa ra được tóm tắt. Lần đầu: 27150 kg Làn sau: gấp đôi lần đầu kg Hoặc Lần đầu: 27180kg Lần sau: kg Sau đó gv đặt câu câu hỏi gợi ý riêng cho từng đối tượng * Đối với hs khá giỏi - Bài toán này thuộc dạng toán gì? (Bài toán giải = 2 phép tính) Nói gộp của những dạng toán nào? (gộp của dạng toán gấp 1 số lên nhiều lần và dạng toán tìm tổng) * Đối với hs tb - yếu Bài toán cho biết gì? Số thóc chuyển lần đầu là bao nhiêu? Số thóc chuyển lần sau như thế nào so với số thóc chuyển lần đầu? - Gấp đôi là làm bằng phép tính gì? (phép nhân) - Bài toán hỏi gì? - Muốn tính số thóc cả hai lần chuyển ta phải tìm gì truớc? (phải tìm số thóc chuyển lần đầu) - Khi đã tìm được số thóc chuyển lần sau, ta phải làm phép tính gì nữa để tìm số thóc chuyển cả 2 lần? (làm phép tính cộng) - Lấy cái gì cồng với cái gì? (Lấy số thóc lần đầu chuyển cộng với số thóc chuyển lần sau vừa tìm được. * Đối với hs thường gặp khó khăn chủ yếu là: khó nhận thức được mối quan hệ cảu cái đã cho trong dữ kiện của bài toán hợp khong biết phải làm gì trước khi đi tìm cái bài toán hỏi. - Vì vậy đối với hs yếu kém gv cần chỉ vào tóm tắt và giải thích rõ mối quan hệ của các đã cho biết. - Sau đó có thể cho hs tự làm bài sau khi đã hướng dẫn kỹ để sau đó nhận xét cái học sinh đã làm tốt và yếu còn chưa làm được để động viên khuyến khích học sinh làm cho hs có hứng thú giải bài toán khác. - Nếu hs đã làm đúng ở trên bảng thì cần cho hs yếu kém nhắc lại nhiều lần phần trình bày lời giải. 3. Học sinh còn lúng túng trong việc trình bày lời giải cho các phép tính * Nguyên nhân. - Gv chưa quan tâm hướng dẫn chu đáo cho hs trong việc đặt lời giải ở dạng toán có lời văn. - Do hs không đọc kỹ đề bài nên không hiểu bản chất của bài toán. còn áp dụng, dập khuôn máy móc với các bài giải mẫu. Chưa hiểu bài toán cho biết bì, bài toán hỏi gì. - Hs không hiểu trình bày phải tìm cái gì trước, cái gì sau trong toán hợp nên dẫn đến phép tính đúng mà lời giải sai hoặc lời gải chưa rõ ràng thiếu tính chính xác. - Do chưa thạo và hiểu tiếng phổ thông ( đối với hs dân tộc) hoặc chưa hiểu rõ ngôn ngữ trong toán học. Do trình độ diễn đạt kém ít được rèn luyện nêu lời giả còn dài dòng, lủng củng, thiếu hoặc thừa chưa đúng trọng tâm. * Biện pháp. - Gợi ý hs có thể dựa vào tóm tắt phần cho biết và phần hỏi để đưa ra lời giải cho chính xác. - Cho hs tập trình bày từ dạng đơn giản nhất, thực tế nhất đối với hs yếu kém) - HD được ra lời giải phải ngắn gọn, đầy đủ, cụ thể, chính xác - Y cầu hs tìm cái gì thì đặt lời giải đó. - Khi học sinh không đặt được lời giải gv không trả lời hộ mà cần đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý để hs tự nêu lời giải - Gv có thể đưa ra tình huống sai, lời giải sai với phép tính) hoặc lời giải lủng củng còn thiếu - yêu cầu học sinh phát hiện rồi sửa. Ví dụ: Bài 2 (167) Có 45 hs xếp thành 9 hàng đều nhau: Hỏi có 60 học sinh thì xếp được bao nhiều hàng như thế? - Trước tiên yêu cầu hs đọc kỹ đề bài. - Yc hs suy nghĩ nêu cách tóm tắt bài toán Tóm tắt 45 hs : 9 hàng 60 hs : hàng? - Trước tiên gv hỏi muốn tính xem 60 hs xếp được bao nhiêu hàng thì ta phải tính gì trước? (Tính xem 1 hàng xếp được bao nhiêu hs) - Hs có thể đặt lời giải là: Số hs xếp được là (hs xếp được là) - Ta thấy lời giải ngắn , thiếu không đủ với dữ kiện của bài - Cho hs nhận xét rồi đưa ra cách trả lời khác cho phù hợp Số hs xếp trong hàng là: 45 : 9 = 5 (học sinh) - Gv tiếp tục hỏi 5 hs xếp thành 1 hàng vậy có 60 hs thì sẽ xếp được bao nhiêu hàng như thế. - Hs sẽ nêu ta lấy 60 hs chia cho số hs trong 1 hàng (5) - Lời giải của phép tính này tương đối dài và khó Hs có thể trả lời là: Có 60 hs thì xếp được số hàng là - Đây là lời giải còn dài dòng, y/c cắt bớt phần rườm rà để có: Số hàng 60 học sinh xếp được là 60:5=12 (hàng VD 2: Cứ 4 cái áo như nhau thì cần có 24 cái cúc áo. Hỏi 42 cái cúc áo thì dùng cho mấy cái áo như thế? - ở lời giải của phép tính 1 thì đơn giản hơn nhưng có một số ít học sinh vẫn trả lời: - Số áo cần cho 1 chiếc cúc là: (điều vô lý) - Gv cần giảng cho hs hiểu là 1 chiếc áo thì không thể dùng cho được đủ nhiều cái áo, mà ta phải cần tìm xem 1 cái áo cần phải khâu bao nhiêu cái áo để học sinh đưa ra đuợc câu trả lời. Số cúc áo cần cho một chiếc áo là: 24 : 4 = 6 (cúc áo) - Còn ở lời giải của phép tính 2 thì hs rất khó diễn giải (đối với hs tb, yếu kể cả hs khá đối lúc cũng nhầm với dạng toán rút về đơn vị dạng 1 là các danh số cần tìm là giống nhau VD dạng 1 Tóm tắt 7 bao: 28 kg 5 bao: chúng tôi ? Bàigiải Số kg gạo trong 1 bao là: 28 :7 = 4 (kg) Số kg gạo trong 5 bao là 5x4=20 (kg) Dạng 2 Tóm tắt 24 cúc áo: 4 cái áo 42 cúc áo .....cái áo Bài giải Số cúc áo cần cho một chiếc áo là 24 : 4 = 6( cúc áo) Số áo loại đó dùng hết 42 cúc áo là 42:6=7 (cái áo) Chúng ta thấy ở 2 dạng khác nhau ở dạng 1 cả 2 phép tính đều có chung danh số (vd kg) nhưng ở vd 2 của dạng 2 GV phải phân tích và hướng dẫn cho hs hiểu ở phép tính và lời giải thứ 2 muốn làm đúng các con phải chú ý vào phần tóm tắt để nêu lời giải. - Có thể hs nêu - Số cúc áo cần dùng cho 42 cái cúc là hoặc số áo cần dùng là: - Cho hs nhận xét rồi đưa ra lời giải khác Số áo cần dùng hết 42 cái cúc là 42:6=7 (cái áo) - Nhưng hs hay nhầm ở dạng 1 nên có thể trả lời là 42:6=7 (cái cúc)sai vì bài yêu cầu tìm số cái áo - Gv phải hướng dẫn các con nhìn vào tóm tắt xem họ hỏi phải tìm gì để trả lời cho chính xác. Lưu ý học sinh Không được viết 42:6=7 cúc áo đáp số: 7 (cái áo) mà phải viết 42:6=7 (cúc áo) đáp số: 7 cái áo - Cuối cùng gv yêu cầu vào học sinh đọc lại toàn bộ bài giải và đáp số của bài toán để khắc sâu kiến thức, giúp các em nhớ bài lâu hơn, có hệ thống hơn để áp dụng dạng bài khác. 4. Đối với dạng toán dạng gấp, (giảm) một số lên (đi) nhiều lần hoặc tăng (giảm) lên (đi) một số đơn vị - Nguyên nhân: Hs thường không đọc kỹ đề và còn hiểu lơớm về các thuật ngữ tăng, giảm số lần với thêm, bớt một số đơn vị nên đã không xác định được phép tính phù hợp cho bài toán. + Biện pháp: - Với dạng toán này giáo viên cần phải hướng dẫn thật kỹ thuật ngữ trong bài toán, đối với hs yếu thì giáo viên có thể phải giảng kỹ cho hs hiểu kỹ trước bằng các vd cụ thể. - Tăng lên một số đơn vị là làm bằng phép tính gì ? (làm bằng phép tính cộng) - Gấp lên 1 số lần là làm bằng phép tính gì? ( làm bằng phép tính nhân) - Giảm đi một số đơn vị thì làm bằng phép tính gì? (làm bằng phép tính trừ) - Giảm đi một số lần thì làm bằng phép tính gì? (làm bằng phép tính chia) .iii. những phương pháp giải toán có lời văn lớp 3. - Dạy học giải toán hay dạng nội dung kién thức nào khác cũng phải theo định hướng đổi mới PPDH ở tiểu học cần tổ chức giờ học dưới dạng các hoạt động học tập hs được phát huy tính tích cực, chủ động cố gắng tự mình chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn, gợi mở của thầy với các câu hỏi phù hợp với từng đối tượng hs, giỏi, khá, tb, yếu, tuỳ từng dạng toán mà có sự thể hiện cách dạy học cho phù hợp và hiệu quả . 1. Một số quy tắc khi dạy giải toán. a, Tổ chức cho hs tìm hiểu nội dung bài toán bằng các thao tác. Đọc kỹ đề bài ( đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm...) Đây là bước nghiên cứu đầu tiên để giúp hs có suy nghĩ ban đầu về ý nghĩa của bài toán, nắm được nội dung bài tóan. Tìm hiểu một số từ, thuật ngữ quan trọng để hiểu nội dung, nắm bắt bài toán cho biết cái gì, bài toán yêu cầu phải tìm gì? b, Tìm cách giả bài toán bừng các thao tác: Tóm tắt bài toán (tóm tắt bằng lời, tóm tắt bằng hình vẽ, tóm tắt bằng sơ đồ) - Cho hs diễn đạt bài toán thông qua tóm tắt - Lập kế hoạch giải bài toán: Xác định trình tự giải bài toán, thông thường xuất phát từ câu hỏi của bài toán đi đến các yếu tố đã cho. Xác lập mối quan hệ giữa các điều kiện đã cho với yêu cầu phải tìm và tìm được đúng phép tính số học thích hợp. c, Thực hiện cách giải qvà trình bài lời giả bằng các thao tác. - Thực hiện các phép tính đã xác định (có thể viết phép tính sau khi viết câu lời giải và thực hiện phép tính) - Viết câu lời giải -Viết phép tính tương ứng - Viết đáp số. Kiểm tra bài giải: Kiểm tra số liệu, kiểm tra tóm tắt kiểm tra phép tính, kiểm tra câu lời giải, kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài toán. 2. Một số phương pháp cụ thể khi dạy giải toán có lời văn lớp 3. - Chủ yếu dạy học sinh biết cách giải bài toán (phương pháp giải toán) GV không nên làm thay hoặc áp đặt cách giải mà chỉ cho hs tự suy nghĩ tìm ra phép tính và kết quả cố gắng để hs tự tìm ra cách giải bài toán (tập trung vào 3 bước. tóm tắt bài toán để biết bài toán cho biết gì? hỏi gì? tìm cách giải, thiết lập mối quan hệ giữa các dữ liệu của đề bài với phép tính tương ứng, trình bày bài giải, viết câu lời giải tương ứng và đáp số. - Về phần tóm tắt bài toán yêu cầu hs tự tri giác đề toán rồi nêu ( viết tóm tắt bằng các cách phù hợp. phần tóm tắt rất cần thiết khi học giải toán vì mục đích tóm tắt bài toán là làm rõ giả thiết ( bài toán cho biết gì) và kết luận (bài toán hỏi gì) từ đó có cách giải thích hợp. - Về trình bày bài giải: hs cần viết được câu lời giải và phép tính tương ứng. GV cần kiên trì để học sinh diễn đạt câu trả lời bằng lời, sau đó viết câu lời giải. Với những hs diễn đạt câu trả lời, sau đó viết câu lời . với những hs đưă còn lúng túng GV nên để hs đưa ra các câu lời giải có thể là diễn đạt còn vụng về nhưng đúng ý sau đó sẽ chỉnh sửa dần dần không nên vội vàng làm thay hs. . iii các giải pháp để nâng cao hiệu quả dạy toán - Để góp phân tích vào việc nâng cao hiệu quả việc dạy toán đối với giáo viên cầm làm tốt các vấn đề sau: + Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải đóng vai trò là người định hướng , hướng dẫn học sinh hứng thú - tự giác tích cực trong học tập, phát huy đựoc mọi khả năng học tập của hs. + Giáo viên phải tạo ra nhiều cơ hổi đẻ thu hút tát cả các đối tượng hs trong lớp tham gia vào học tập một cách sáng tạo khi đặt câu hỏi giáo viên phải đưa ra hệ thống câu hỏi phù hộp với cả 3 đối tượng học sinh trong lớp. + Gv không làm thay, không áp đặt mà chỉ đưa ra những câu hỏi gợi ý để hs suy nghĩ rồi làm. + Gv cùng với hs xây dựng nội dung trọng tâm một cách linh hoạt, không áp đặt một cách máy móc, dập khuôn. v. kết quả tổ chức thực nghiệm: Trong quá trình giảng dạy, xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tế hiệu quả giảng dạy ở nhà trường, tôi đã áp dụng phương pháp dạy toán có lời văn này vào lớp 3B do tôi chủ nhiệm trong năm học vừa qua đối chứng học kỳ I kết quả thu được như sau: Thang điểm Lớp 3 B 29 hs Dưới 5 5 6 7 8 9 10 Học kỳ I Số Hs 3 3 4 4 6 4 5 Tỉ lệ 10% 10% 14% 10% 21% 14% 17% Học kỳ II Số hs 0 0 3 2 3 6 15 Tỉ lệ 10% 0,7% 10% 21% 52% Với kết quả trên ta thấy việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên là người tổ chức, định hướng cho hs tự tìm tòi, khám phá chiếm lĩnh tri thức mới đã mang lại kết quả rất tốt. Đa số hs của lớp hiểu được cách giải toán và biết tự trình bày bài giải một cách hợp lý, đặc biệt phương pháp giải đã giúp ta khắc phục nâng cao chất lượng, giảm bớt tối đa tỉ lệ hs trung bình. - Với đối tượng hs ở trường tối đều là con em cán bộ nhân dân thuộc địa bàn thị trấn nên kết qủa thực nghiệm có phần khả quan. Nhưng tôi tin rằng nếu ápdụng phươngpháp dạy giải toán có lời văn do tôi đưa ra với các lớp khác (kể cả vùng khó khăn) chắc rằng các em sẽ hiểu bài và nắm được phương pháp giải một cách tốt nhất. kết luận - Trong quá trình giảng dạy áp dụng phương pháp dạy học mới, giáo viên cần tổ chức cho hs tự làm chủ trong giải quyết vấn đề không nên làm mẫu không được áp đặt cho hs. hs phải chủ động tìm tòi dưới sự hướng dẫn của gv, để rút ra hướng giải và tự hiểu và ghi nhớ để vận dụng kỹ năng giải toán. Sau khi học xong mỗi dạng toán gv phải chốt lại các đặc điểm của dạng toán đó để học sinh so sánh, đối chiếu với các dạng toán khác để dễ dàng phân biệt dạng toán khi thực hành làm bài tập. - Hs phải được hoạt động, thực hành nhiều trên bài tập - Gv không nhất thiết phải tuân thủ theo cách dạy của SGK và sách hướng dẫn và phải có sự suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo trong dạy học. - Giáo viên cần chú trọng vào rèn hs theo trình độ của hs mình mà cải tiến một số câu hỏi và bài tập cho phù hợp theo các mức độ hs: giỏi (có thể nâng cao), khá TB, yếu. - Trên dây là một số kinh nghiệm ít ỏi của tôi thông qua quá trình công tác giảng dạy nên không tránh khỏi những thiếu sót, vì với tâm huyết nghề nghiệp mốn nghiên cứ và tìm tòi những phương pháp dạy học để giúp phần nâng cao chất lượng của hs, nhưng với trình độ có hạn nên tôi chỉ thực hiện trên một lớp của mình với một khía cạnh nhỏ trong việc đổi mới phương pháp dạy học Vậy tôi rất mong được sự đóng góp, bổ sung ý kiến của hội động khoa học trường tiểu học Hát Lót cung các bạn bè động nghiệp để sáng kiến kinh kinh nghiệm của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn góp phần tốt hơn cho công tác giảng dạy sau này. Tôi xin trân thành cảm ơn Mai Sơn, ngày 2 tháng 5 năm 2007 Người thực hiện Lê Thị Nam nhận xét, đánh giá của hội đồng khoa học nhà trường

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Toán Lớp 3 Một Số Biện Pháp Nhằm Giúp Học Biết Giải Toán Có Lời Văn

ĐỀ TÀI

I./ Lý do hình thành sáng kiến: Bước vào năm học, sau khi nhận học sinh một vài tuần, các nề nếp đang được ổn định dần, song song tiến hành ôn tập Toán, ôn luyện lại các kiến thức đã học, nhanh chóng giúp các em củng cố sau ba tháng hè.– Qua kiểm tra ôn tập hằng học, lớp tôi có một số học sinh chưa thực sự ham học môn toán giải có lời văn, vào tiết học thụ động, lười , ít chú ý môn học. Vì vậy, tôi đã áp dụng một số biện pháp mà những năm qua tôi thực hiện có kết qua.û Trăn trở trước đối tượng học sinh chưa ham học toán có lời văn. Vì các em không những thụ động trong học tập mà còn ham chơi làm ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu lớp. Trong khi phương pháp học mới của chương trình tiểu học hiện nay lại coi trọng việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập, cần tổ chức nhiều hình thức học tập thu hút học sinh. Cũng như những năm trước, năm nay lớp tôi cũng tiếp nhận một số học sinh chưa thực sự ham học toán có lời văn, khiến tôi ưu tư lo lắng làm thế nào giúp các em thấy việc học toán là nhu cầu cần thiết, giúp các em ham học và chịu khó học bài, làm bài. II/. Nội dung và biện pháp giúp đỡ học sinh yếu khi giải toán có lời văn:1/. Quá trình phát triển kiểm nghiệm: – Dạy toán nhằm giúp học sinh: Việc dạy học giải toán nhằm giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức về toán, được rèn luyện thực hành với những yêu cầu thể hiện một cách đa dạng, phong phú. Nhờ việc dạy học giải toán mà học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyên phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của người lao động mới.Giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác : Xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu , giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện của bài toán: chọn được phép tính thích hợp trả lời đúng câu hỏi của bài toán.Các bài toán số học được phân chia thành các bài toán đơn và khối các bài toán hợp. Bài toán được giải bằng một bước tính gọi là bài toán đơn; bài toán được giải bằng một số bước được gọi là bài toán hợp.Hình thành và rèn luyện kỹ năng: thực hành, đọc, viết, đếm, so sánh các số, giải một số dạng bài toán đơn về cộng trừ, bước đầu diễn đạt bằng lời… Những nội dung có quan hệ đến đời sống thực tế của học sinh.Giáo dục học sinh: chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập toánThông qua các hoạt động dạy học giải toán có lời văn , giáo viên tiếp tục giúp học sinh : Phát triển các năng lực tư duy ( so sánh, lựa chọn, phân tích , tổng hợp, trừ tượng hoá, khái quát hoá); Pháp triển trí tưởng tượng không gian, tập nhận xét các số liệu thu thập được, diễn đạt gọn, rõ, đúng các thông tin , cẩn thận, chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành toán . 2/. Thực trạng ban đầu: Thực tế qua giảng dạy, tôi thấy các em còn chưa ham học trong việc giải toán có lời văn. Trong các lý do dẫn đến học sinh khi giải toán có nhiều nguyên nhân:( Giáo viên:– Kế hoạch bài soạn của giáo viên còn sơ sài hoặc bỏ qua khâu hướng dẫn. Giáo viên chỉ soạn qua loa. Hay chỉ truyền thụ những kiến thức sẵn có để cung cấp cho học sinh. – Giáo viên còn lúng túng khi đặt câu hỏi để hướng dẫn học sinh giải. – Truyền đạt của giáo viên khi hướng dẫn giải không rõ ràng, khó hiểu. – Chưa đúc kết được kinh nghiệm hướng dẫn giải. Mà cứ hướng dẫn theo bài bản sư phạm của môn toán ở Tiểu học. Làm học sinh trung bình, yếu, kém, không thể tiếp thu được để giải bài toán.( Học sinh:Học sinh đọc cho qua loa, không cần suy nghĩ giải như thế nào?Đưa ra đề toán cho học sinh rất lười, không đọc đề để hiểu yêu cầu bài tập làm gì? – Giải toán có lời văn học sinh chưa biết cách để thể hiện bài giải, khó nhận ra đâu là đơn vị , lời giải của bài toánHọc sinh không cảm thụ được đề toán yêu cầu làm gì ? và phải làm như thế nào? ( Tóm lại học sinh không nhận ra được yêu cầu cốt lỏi ở bài toán có lời văn và nếu thể hiện thì còn nhiều yếu tố như : trình

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 trên website Ictu-hanoi.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!