Giải Pháp Kết Hợp Kinh Tế Với Quốc Phòng An Ninh / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Ictu-hanoi.edu.vn

Giải Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Sự Kết Hợp Kinh Tế Với Quốc Phòng

Thứ tư, 02 Tháng 3 2016 10:05

(LLCT) – Mục tiêu chung của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh (QPAN) và đối ngoại là tạo môi trường quốc tế và trong nước thuận lợi cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN. Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng từng bước hiện đại, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị vũ khí, kỹ thuật ngày càng hiện đại.

1. Một số nội dung cơ bản của kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh và đối ngoại

Mục tiêu chung của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng – an ninh (QPAN) và đối ngoại là tạo môi trường quốc tế và trong nước thuận lợi cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN. Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng từng bước hiện đại, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị vũ khí, kỹ thuật ngày càng hiện đại. Trên cơ sở chiến lược chung và chiến lược từng vùng lãnh thổ, từng địa phương mà kết hợp chặt chẽ kinh tế với QPAN và đối ngoại; từng bước hình thành các vùng chiến lược kinh tế – QPAN, vừa có kinh tế mạnh, vừa có QPAN mạnh, nhất là ở các địa bàn xung yếu về QPAN; tăng cường được khả năng phòng thủ ở vùng biển đảo và vùng biên giới. Bảo đảm cho nền kinh tế đất nước phát triển nhanh, ổn định và bền vững, vừa có khả năng tự bảo vệ và được bảo vệ một cách vững chắc; vừa có khả năng và luôn ở tư thế sẵn sàng cao nhất về kinh tế bảo đảm cho QPAN trong mọi tình huống. Đồng thời, trong quá trình xây dựng tiềm lực QPAN phải lấy yêu cầu ổn định và phát triển kinh tế làm mục đích, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.

Quan điểm chỉ đạo kết hợp kinh tế – quốc phòng là:

a) Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh và đối ngoại là một tất yếu khách quan, một vấn đề có tính quy luật trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, là một nhu cầu bức thiết của mọi ngành, mọi cấp nhằm góp phần xây dựng và phát huy sức mạnh tổng hợp quốc gia; giải quyết tốt mối tương quan giữa lợi ích kinh tế, tăng trưởng kinh tế và bảo đảm QPAN, sao cho mỗi bước phát triển kinh tế – xã hội là một bước tăng cường tiềm lực QPAN; chủ động ngăn ngừa và loại trừ ngay từ đầu mưu toan lợi dụng hoạt động kinh doanh để chuyển hóa về chính trị; mặt khác, cũng không vì bảo đảm QPAN mà gây cản trở hợp tác, giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế.

b) Phải phát huy nội lực của các lĩnh vực, các ngành, các cấp, các địa phương và đơn vị cơ sở; kết hợp chặt chẽ giữa tự bảo vệ, tham gia bảo vệ với được bảo vệ trong quan hệ xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội với củng cố, tăng cường QPAN, mở rộng đối ngoại; biết khai thác thế mạnh của từng lĩnh vực để tự bảo vệ và được bảo vệ một cách vững chắc; đồng thời, biết tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, biến nó thành nội lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

c) Kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các địa phương và của toàn dân; là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, có một hệ thống tổ chức điều hành thống nhất, theo một cơ chế và những chính sách phù hợp.

d) Nắm vững quan điểm tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ, sáng tạo.

Về một số nội dung kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại là:

Kết hợp trong xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch tổng thể quốc gia, trong từng lĩnh vực, từng vùng, từng địa phương, từng ngành, trong thực thi nhiệm vụ của từng đơn vị, từng doanh nghiệp, từng thành phần kinh tế, cả vĩ mô và vi mô; trong xây dựng tiềm lực tổng hợp quốc gia, bao gồm các tiềm lực: chính trị – tinh thần – văn hoá, kinh tế, khoa học – công nghệ, quân sự, QPAN,…; trong xây dựng thế bố trí chiến lược về kinh tế và thế bố trí về QPAN để tạo sức mạnh tổng hợp; trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để có thể khai thác, sử dụng chung cho các khu vực kinh tế, cho QPAN; trong các hoạt động xây dựng và đấu tranh QPAN với các hoạt động kinh tế.

Đối ngoại góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho phát triển đất nước thông qua ngoại giao song phương, ngoại giao đa phương, công tác biên giới lãnh thổ và đấu tranh đối ngoại; thúc đẩy phát triển kinh tế, qua đó, tăng cường nội lực bảo đảm QPAN quốc gia; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc thông qua công tác về người Việt Nam ở nước ngoài.

Sự kết hợp kinh tế quốc phòng – an ninh và đối ngoại phải được thực hiện ở tất cả các cấp, các ngành, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; từ trong quy hoạch tổng thể đến các bước triển khai, theo sự chỉ đạo và quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước.

Kết hợp theo vùng lãnh thổ nhằm từng bước hình thành các vùng chiến lược kinh tế – QPAN, tạo sức mạnh tổng hợp của QPAN tại địa bàn.

Kết hợp theo ngành kinh tế kỹ thuật nhằm xây dựng tiềm lực QPAN trong các ngành kinh tế và phát triển hợp lý ngành công nghiệp quốc phòng, xây dựng các khu công nghiệp quốc phòng ở những địa bàn trọng điểm, hình thành nền công nghiệp quốc phòng của đất nước, từng bước bảo đảm trang bị vũ khí, kỹ thuật và những phương tiện cần thiết cho QPAN đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

2. Một số giải pháp cơ bản

Một là, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại cho cán bộ các cấp, các ngành

Trước hết, cần bồi dưỡng lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại trong lịch sử dân tộc; kinh nghiệm của Đảng ta trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực trạng sự kết hợp này hiện nay; kinh nghiệm của các nước trên thế giới về vấn đề này. Từ đó xác định rõ những yêu cầu mới trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế. Ngoài ra, cần bồi dưỡng kiến thức cơ bản về kinh tế quân sự, kiến thức về QPAN, kiến thức về chiến lược đối ngoại kết hợp với kinh tế và QPAN.

Khối lượng kiến thức về kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại để bồi dưỡng, cần được chia theo các nhóm đối tượng.

Đối với cán bộ Đảng, nhà nước và đoàn thể, cần bồi dưỡng kiến thức tương đối hệ thống và toàn diện, những chủ trương và biện pháp ở tầm vĩ mô; làm cho họ nhận rõ tính quy luật của việc kết hợp cơ chế tác động và cơ chế vận dụng tính quy luật; vai trò của nhân tố con người; hiệu lực quản lý của Nhà nước bằng pháp luật đối với những yêu cầu kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế.

Đối với cán bộ kinh tế, tập trung bồi dưỡng kiến thức về QPAN, về kinh tế đối ngoại trên một số mặt chủ yếu, nhằm khắc phục tư duy kinh tế thuần tuý, mất cảnh giác trong hợp tác đầu tư với nước ngoài; có tư duy mới về chức năng bảo vệ của QPAN trong thời kỳ hội nhập và trong tình hình mới; về chống “diễn biến hòa bình”, về âm mưu, thủ đoạn phá hoại trên lĩnh vực kinh tế của các thế lực thù địch.

Đối với cán bộ các lực lượng vũ trang nhân dân, tập trung bồi dưỡng kiến thức kinh tế, đối ngoại, kiến thức quân sự, quốc phòng một cách cơ bản, toàn diện, nhất là đội ngũ cán bộ cấp cao, cấp chiến lược, những người có quan hệ trực tiếp đến quá trình hoạch định đường lối, chính sách, chủ trương và các biện pháp ở tầm vĩ mô về QPAN và kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại. Đồng thời, nâng cao tư duy kinh tế, tư duy kinh tế đối ngoại trong các hoạt động quân sự, hoạt động QPAN.

Hai là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cần:

Xác định đúng đắn vị trí, vai trò của vấn đề kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, nhất là trong tình hình khu vực và quốc tế có những diễn biến phức tạp về an ninh hiện nay.

Xác định đúng và đủ những nội dung quản lý nhà nước về kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại. Đó là: ban hành các văn bản pháp luật; xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chính sách quốc gia; tổ chức thu thập, xử lý, cung cấp thông tin, định hướng hoạt động, tổ chức hướng dẫn việc kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại cho các tổ chức kinh tế – xã hội và QPAN; tổ chức và quản lý công tác nghiên cứu khoa học; tổ chức giáo dục cho toàn dân và đào tạo đội ngũ cán bộ tham mưu; tổ chức hướng dẫn thực hiện các chính sách, chế độ, quy định nhằm khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần cho các đơn vị thực hiện có hiệu quả; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách và luật pháp về sự kết hợp; xử lý những vi phạm pháp luật về kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại.

Xây dựng cơ chế quản lý thích hợp về kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế.

Ba là, hoàn thiện cơ chế kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại

Cơ chế kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là tổng thể các yếu tố về tổ chức và các thể chế tương ứng, bảo đảm cho sự vận hành của các tổ chức, nhằm gắn kết các lĩnh vực thành một chỉnh thể thống nhất, bảo đảm quá trình CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế được tiến hành trong trạng thái tự bảo vệ và được bảo vệ một cách vững chắc, đạt tới hiệu quả toàn diện, tổng hợp cả về kinh tế, QPAN và đối ngoại.

Hoàn thiện cơ chế kết hợp, cần tập trung vào hai nội dung chủ yếu:

Về cơ cấu tổ chức:

Mở rộng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan QPAN ở các bộ, ngành. Mở rộng chức năng tham mưu cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan Chính phủ về công tác QPAN và công tác kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại.

Mở rộng chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hoạch định chiến lược của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an làm tham mưu, đề xuất các nhiệm vụ, yêu cầu về QPAN và kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại trong quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế – xã hội dài hạn.

Kiện toàn tổ chức, bổ sung nhiệm vụ cho cơ quan tham mưu ở các quân khu, quân đoàn, quân, binh chủng về công tác này.

Bổ sung nhiệm vụ cho cơ quan tham mưu ở Bộ Công an, tương tự như ở Bộ Quốc phòng, để gắn kết hai mặt quốc phòng với an ninh, và kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại.

Ngoài ra, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ, ngành kinh tế cần chủ động thực hiện phối hợp và kết hợp chặt chẽ mọi hoạt động thực hiện nhiệm vụ QPAN, nhất là trong các quy hoạch, kế hoạch ở tầm vĩ mô.

Về cơ chế chính sách và pháp luật:

Có chính sách đầu tư thoả đáng cho nhu cầu kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại.

Đối với những dự án, những công trình lớn và quan trọng có nhu cầu lưỡng dụng cao, phải chủ động đầu tư bằng hai nguồn lực chủ yếu (cho phát triển kinh tế – xã hội và đầu tư cho QPAN), nhất là nguồn vốn ngân sách. Như vậy mới thoả mãn được nhu cầu kết hợp ở trình độ cao và hiệu quả tổng hợp sẽ lớn.

Có chính sách khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với các tổ chức kinh tế – xã hội, đơn vị QPAN và các cá nhân có những công trình nghiên cứu, những đề án khả thi, những dự án, những công trình kinh tế có tính “lưỡng dụng” cao, có giá trị về kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại nhằm thu hút mọi nguồn lực để nâng cao hiệu quả sự kết hợp.

Luật pháp hoá vấn đề kết hợp phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.

Bốn là, kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại phải được quán triệt sâu sắc trong điều hành vĩ mô của Nhà nước

Nhà nước phải có cơ chế, chính sách bảo đảm nguồn tài chính đáp ứng yêu cầu QPAN. Ngân sách quốc phòng phải được xây dựng theo quan điểm quốc phòng toàn dân, theo đó, các ngành, các cấp, các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình sở hữu phải có nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách quốc phòng. Vấn đề này phải được luật hóa trong văn bản pháp luật của Nhà nước.

Trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm, khi thẩm định các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, Nhà nước cần chỉ đạo kết hợp mục tiêu kinh tế và mục tiêu QPAN nhằm tạo ra các công trình vừa phục vụ dân sinh, vừa phục vụ QPAN.

Trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế với nước ngoài cần phải luôn cảnh giác, giữ vững độc lập tự chủ, lấy lợi ích dân tộc làm tiêu chí hàng đầu cho việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại nói chung, chính sách kinh tế đối ngoại nói riêng.

Trong quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp cần chú ý kết hợp yêu cầu sản xuất thời bình với chuẩn bị sẵn sàng cho yêu cầu sản xuất thời chiến; làm cho mỗi bước tiến lên của công nghiệp là một bước hiện đại hoá lực lượng QPAN, tăng cường tiềm lực kinh tế – kỹ thuật QPAN. Đảm bảo khi xảy ra chiến tranh có thể huy động tới mức cao nhất khả năng công nghiệp phục vụ chiến đấu, nhằm mục tiêu giành thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Giải quyết đúng đắn, có kế hoạch xây dựng và phát triển hệ thống công nghiệp nói chung với xây dựng và phát triển hệ thống công nghiệp quốc phòng nói riêng đi đôi với việc chuẩn bị động viên công nghiệp cho chiến tranh, làm cho sản xuất dân dụng và sản xuất quốc phòng xích gần nhau.

Để đáp ứng yêu cầu mới của cả nước, cũng như ở từng địa bàn chiến lược, Nhà nước cần có chiến lược xây dựng hệ thống giao thông đồng bộ, gồm nhiều mạng lưới: đường bộ, đường không, đường sông, đường biển, đường sắt,… để có thể sử dụng nhiều loại phương tiện, có khả năng hỗ trợ nhau. Cần tập trung vốn xây dựng ở những nút giao thông quan trọng; chú ý giải pháp “ngầm hóa” các công trình giao thông. Đưa một phần cơ bản công trình giao thông xuống dưới lòng đất nhằm thêm không gian và tiện ích cho hoạt động giao thông của các đô thị lớn. “Ngầm hóa” các công trình giao thông nhằm tăng cường an ninh giao thông và trong tình huống chiến tranh thì tăng cường khả năng che đỡ, phòng tránh vũ khí công nghệ cao của địch; gây khó khăn cho việc thực hiện mục tiêu đánh phá, làm hạn chế hoặc vô hiệu hóa khả năng trinh sát, phát hiện, sát thương của vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại và làm giảm sức mạnh của địch khi tiến công xâm lược.

Hội nhập công nghiệp quốc phòng vào công nghiệp quốc gia là một chủ trương lớn của Đảng về phát triển công nghiệp quốc phòng Việt Nam cũng như về chiến lược kết hợp kinh tế với QPAN trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Do vậy, trong quá trình thực hiện cần có nhận thức đúng, toàn diện với những nội dung triển khai được tiến hành đồng bộ và bước đi hợp lý, hiệu quả.

Năm là, xây dựng cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ gắn với xây dựng thế trận QPAN vững chắc, gắn chặt phát triển cơ cấu vùng lãnh thổ với cơ cấu ngành của nền kinh tế

Xây dựng cơ cấu kinh tế vùng phải tính đến các vị thế xung yếu, các tuyến giao thông, dân cư, phân bổ nguồn lực lao động, nguồn lực con người. Xây dựng cơ cấu vùng phải đồng thời là sự bố trí chiến lược thống nhất cả về kinh tế và QPAN, tạo điều kiện để cả nước và từng địa phương có thể chủ động đối phó với tình huống về QPAN có thể xảy ra.

Cần chú trọng kết hợp kinh tế với QPAN trên ba vùng kinh tế trọng điểm của đất nước: vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Ở góc độ QPAN, vùng kinh tế trọng điểm chiếm một không gian địa lý rộng lớn và tổng hợp (gồm cả trên bộ, vùng biển, trên không), nằm trong những khu vực năng động nhất của đất nước. Đó chính là những địa bàn giữ một vị trí chiến lược rất trọng yếu trong thế trận phòng thủ quốc gia. Do vậy, cần phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với QPAN ở các vùng kinh tế này. Gắn liền với phát triển kinh tế – xã hội trên vùng kinh tế trọng điểm, cần phải có kế hoạch xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân hữu hiệu, ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ vùng kinh tế trọng điểm.

Sáu là, kết hợp chặt chẽ kinh tế với QPAN trong chiến lược phát triển khoa học – công nghệ; trong đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, liên kết đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho lực lượng vũ trang

Khuyến khích triển khai các công trình khoa học mang tính lưỡng dụng. Cần xây dựng các cơ chế đặt hàng trong quan hệ giữa các lực lượng khoa học trong và ngoài quân đội. Cần tổ chức các Hội đồng khoa học liên ngành ở cấp quốc gia để tổ chức, hướng dẫn việc kết hợp, huy động mọi tiềm lực khoa học – công nghệ trong nghiên cứu và giải quyết những vấn đề chiến lược, cơ bản lâu dài cũng như những nhiệm vụ trước mắt do yêu cầu củng cố quốc phòng, an ninh đặt ra.

Chiến tranh trong điều kiện hiện đại đòi hỏi một nguồn nhân lực đông đảo có chất lượng cao, được chuẩn bị chu đáo cả về năng lực chuyên môn và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Điều đó làm cho mối quan hệ cân đối, hài hòa giữa huy động lực lượng lao động cho kinh tế và quốc phòng cả về số lượng và chất lượng trở thành một trong những mối quan hệ lớn có tầm quan trọng chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghệ thuật và khoa học của việc kết hợp này là tìm ra phương hướng đúng đắn để giải quyết những vấn đề về tỷ lệ động viên, đối tượng động viên, biện pháp động viên nhân lực vào lực lượng vũ trang mà vẫn đáp ứng vào các nhu cầu xây dựng kinh tế.

Bảy là, quân đội thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nền kinh tế, tích cực tham gia hoạt động kinh tế; bảo vệ và trực tiếp tham gia vào sự nghiệp CNH, HĐH; xung kích phòng chống tham nhũng và các tệ nạn xã hội

Kết hợp kinh tế với QPAN và đối ngoại là công việc của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị. Quân đội quán triệt và chấp hành nghiêm túc chủ trương kết hợp kinh tế với QPAN với tư cách là một lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ này.

Do những đặc điểm về chức năng, nhiệm vụ hoạt động của quân đội mà nội dung kết hợp kinh tế với QPAN có những nét riêng biệt, thể hiện ở những điểm sau đây:

Chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, kịp thời và kiên quyết đập tan mọi hành động xâm lược của kẻ thù, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân có điều kiện an ninh thuận lợi để phát triển.

Bảo vệ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Khi chưa có chiến tranh, lực lượng vũ trang phải cùng với các ngành kinh tế tạo ra những điều kiện và phương tiện cần thiết để bảo vệ vững chắc các cơ sở kinh tế, các khu vực kinh tế và các nguồn tài nguyên của đất nước. Khi chiến tranh xảy ra, các lực lượng vũ trang phải chiến đấu có hiệu quả, bảo vệ tiềm lực kinh tế, kỹ thuật của đất nước, bảo vệ các cơ sở sản xuất và nguồn dự trữ, đáp ứng nhu cầu dân sự và quân sự.

Sẵn sàng bảo vệ hoạt động kinh tế đối ngoại. Các lực lượng quân đội và công an phải cùng các cấp, các ngành phối hợp chặt chẽ, có nguyên tắc, để một mặt, tạo ra môi trường thuận lợi, thông thoáng cho các hoạt động kinh tế đối ngoại; mặt khác, vẫn giữ được an ninh và chủ quyền quốc gia, chặn đứng được các thủ đoạn lợi dụng kinh tế đối ngoại để hoạt động phá hoại. Cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp phải thường xuyên giáo dục ý thức cảnh giác cho cán bộ và nhân dân khi có quan hệ với người nước ngoài, làm cho mọi hoạt động kinh tế đối ngoại phải tự bảo vệ và được bảo vệ, ngăn chặn được các yếu tố gây mất an ninh và ổn định.

Lực lượng vũ trang tích cực đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu và các tệ nạn xã hội khác; vận động quần chúng phát hiện, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, thói cửa quyền, hách dịch, hối lộ,…; phối hợp giữa lực lượng quân đội và công an, tòa án, thuế vụ, hải quan đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hành vi tiêu cực nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước và ổn định các hoạt động kinh tế xã hội.

Tám là, kết hợp chặt chẽ giữa ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa và đối ngoại quân sự tạo thành sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam nhằm tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường tiềm lực QPAN, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tăng cường phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa ngoại giao nhà nước với hoạt động đối ngoại của Đảng, Quốc hội và nhân dân; giữa đối ngoại với QPAN, kinh tế, văn hóa và tư tưởng; giữa đối ngoại Trung ương với địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Việt Nam trên trường quốc tế, kịp thời phát hiện và ứng phó hiệu quả với những tác động đa chiều của các diễn biến đối ngoại với QPAN và phát triển của đất nước. Chủ động, tích cực tham gia các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực, đặc biệt là ASEAN và Liên Hợp quốc, tham gia giải quyết các thách thức toàn cầu, phát huy ảnh hưởng quốc tế để phục vụ cho phát triển và QPAN của Việt Nam. Giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, lãnh hải trên cơ sở luật pháp quốc tế, kết hợp chặt chẽ các biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2015

PGS, TS Bùi Đình Bôn

Ban Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương

Kết Hợp Chặt Chẽ Phát Triển Kinh Tế

(Haiphong.gov.vn) – Sáng 11/12, tại Bộ Chỉ huy quân sự thành phố, UBND thành phố tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quân sự, quốc phòng địa phương năm 2020; triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2021. Dự Hội nghị có Thiếu tướng Nguyễn Quang Ngọc, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân khu 3. Đồng chí Lê Khắc Nam, Phó Chủ tịch UBND thành phố chủ trì Hội nghị.

Quang cảnh Hội nghị

Năm 2020, UBND thành phố đã chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương đạt kết quả quan trọng, toàn diện, nổi bật là: Nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong khu vực phòng thủ được bảo đảm, tiềm lực quốc phòng - an ninh được củng cố, tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Công tác giáo dục quốc phòng thực hiện có chiều sâu; lực lượng vũ trang thành phố được xây dựng vững mạnh, chất lượng chính trị, khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng cao, thực sự là lực lượng nòng cốt trong triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương; tổ chức tốt huấn luyện chiến đấu, diễn tập, hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân. Tham gia hiệu quả công tác phòng, chống dịch COVID 19; xây dựng tốt mối đoàn kết quân dân; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, các chính sách xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa trên địa bàn thành phố.

Thiếu tướng Nguyễn Quang Ngọc, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân khu 3 trao tặng danh hiệu cho các tập thể, cá nhân

Trong năm 2021, Thiếu tướng Nguyễn Quang Ngọc đề nghị Thành ủy, HĐND, UBND thành phố tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trọng tâm như: Tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết về công tác quân sự, quốc phòng; sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia xử lý các tình huống thiên tai, dịch bệnh; làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, an ninh; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế – xã hội gắn với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; tập trung xây dựng Đảng bộ quân sự thafh phố vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tiếp tục triển khai các quy hoạch, đề án quốc phòng đã được phê duyệt; chỉ đạo lực lượng vũ trang bảo đảm đầy đủ, kịp thời các mặt công tác hậu cần, kỹ thuật và bảo đảm an toàn tuyệt đối…

Thiếu tướng Nguyễn Quang Ngọc cũng cảm ơn Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo đến công tác quân sự, quốc phòng; cảm ơn các sở, ban, ngành, đoàn thể, cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho lực lượng vũ trang thành phố hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Khắc Nam phát biểu tại Hội nghị

Phát biểu kết luận Hội nghị, thay mặt lãnh đạo thành phố, Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Khắc Nam cảm ơn, tiếp thu ý kiến phát biểu chỉ đạo của Thiếu tướng Nguyễn Quang Ngọc, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Quân khu 3, ý kiến của các đại biểu tại Hội nghị và sẽ chỉ đạo bổ sung vào phương hướng thực hiện công tác quân sự, quốc phòng địa phương của thành phố Hải Phòng năm 2021.

Phó Chủ tịch UBD thành phố nhấn mạnh, trước yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao, để chỉ đạo hoàn thành công tác quân sự, quốc phòng địa phương năm 2021, Phó Chủ tịch UBD thành phố đề nghị các cơ quan, địa phương, đơn vị tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm như: Quán triệt và triển khai thực hiện tốt các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về đường lối quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng xây dựng tiềm lực trong khu vực phòng thủ; thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Chỉ đạo quyết liệt công tác tuyển quân, phấn đấu hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân năm 2021 (2.500 chỉ tiêu), bảo đảm chất lượng. Hoàn thành công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng. Thực hiện tốt chủ trương phát triển kinh tế – xã hội gắn với củng cố quốc phòng – an ninh. Chú trọng công tác quản lý đất, công trình quốc phòng; tiếp tục quan tâm bố trí quỹ đất và đầu tư ngân sách cho xây dựng các công trình trong khu vực phòng thủ quận, huyện.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Khắc Nam trao Cờ thi đua cho các tập thể

Phó Chủ tịch UBND thành phố Lê Khắc Nam trao Bằng khen cho các tập thể, cá nhân

Cùng với đó, nâng cao chất lượng huấn huyện, sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang thành phố, hiệu quả hoạt động của lực lượng Dân quân tự vệ, Dự bị động viên. Tổ chức tốt diễn tập Khu vực phòng thủ thành phố; diễn tập chiến đấu phòng thủ và diễn tập phòng chống thiên tai – tìm kiếm cứu nạn các quận, huyện. Tổ chức tốt các hoạt động chào mừng kỷ niệm các ngày Lễ, sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, thành phố.

Phó Chủ tịch UBD thành phố cũng đề nghị các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị cần quan tâm hơn nữa đến công tác chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, xây dựng khu vực phòng thủ; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh góp phần bảo đảm quốc phòng – an ninh của thành phố.

Phó Chủ tịch UBD thành phố giao Bộ Chỉ huy quân sự thành phố tổng hợp các kiến nghị, đề xuất của các cơ quan, địa phương, đơn vị; tham mưu, đề xuất UBND thành phố xem xét, giải quyết.

Thay mặt lãnh đạo thành phố, Phó Chủ tịch UBD thành Lê Khắc Nam cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiều hơn nữa của Bộ Tư lệnh Quân khu 3 để lực lượng vũ trang thành phố Hải Phòng thực sự là lá cờ đầu trong công tác quân sự, quốc phòng của lực lượng vũ trang Quân khu; thành phố Hải Phòng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ về phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh trong thời gian tới.

Đại tá Nguyễn Minh Quang, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự thành phố trao danh hiệu cho các tập thể, cá nhân

Tại Hội nghị, Quân khu 3 trao trao tặng 14 tập thể danh hiệu đơn vị quyết thắng, 8 chiến sĩ thi đua cơ sở đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2020. UBND thành phố trao Cờ thi đua cho 3 tập thể, tặng Bằng khen cho 10 tập thể, 7 cá nhân có thành tích xuất sắc toàn diện trong phong trào thi đua quyết thắng năm 2020. Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố trao khen thưởng cho 21 tập thể danh hiệu đơn vị tiên tiến và 125 chiến sĩ thi đua. Phương Trang

Giải Bài Tập Địa Lí Lớp 12 Bài 42: Vấn Đề Phát Triển Kinh Tế, An Ninh Quốc Phòng Ở Biển Đông Và Các Đảo, Quần Đảo

Trang 191 sgk Địa Lí 12: Hãy kể tên các ngư trường trọng điểm của nước ta và xác định các ngư trường này trên bản đồ Nông nghiệp chung (hoặc Atlat Địa lí Việt Nam).

Trả lời:

– Ngư trường Cà Mau – Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan).

– Ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận -Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Ngư trường Hải Phòng – Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ).

– Ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa.

Trang 191 sgk Địa Lí 12: Hãy xác định trên bản đồ Cồng nghiệp chung (hoặc Atlat Địa lí Việt Nam) 4 mỏ dầu thuộc vùng trũng Cửu Long.

Trả lời:

– Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bạch Hổ và Rồng, Sư tử Đen – Sư tử Vàng.

Trang 191 sgk Địa Lí 12: Hãy xác định trên bản đồ các đảo và quần đảo

Trả lời:

các đảo Cái Bầu, Cát Bà, Lý Sơn, Phú Quý, Phú Quốc; quần đảo gồm các đảo Vân Đồn, Cô Tô, Cát Bà; quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đào Côn Đảo (còn gọi là quần đảo Côn Sơn), quần đảo Nam Du, quần đảo Thổ Chu.

Trang 192 sgk Địa Lí 12: Hãy xác định trên bản đồ các huyện đảo:

Trả lời:

– Huyện đảo Vân Đồn và huyện đảo Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh).

– Huyện đảo Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng).

– Huyện đảo Cồn cỏ (tỉnh Quảng Trị)

– Huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng)

– Huyện đảo Lí Sơn (tỉnh Quảng Ngãi).

– Huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hoà).

– Huyện đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận).

– Huyện đảo Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu).

– Huyện đảo Kiên Hải và huyện đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang).

Trang 194 sgk Địa Lí 12: Dựa vào kiên thức đã học, hãy xác định một số tỉnh, thành phố ở nước ta đang phát triển mạnh kinh tế biển.

Trả lời:

– Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh nổi bật về phát triển tổng hợp kinh tế biển (khai thác hải sản, khai thác dầu khí, du lịch biển, giao thông vận tải biển).

– Tỉnh Quảng Ninh: khai thác và nuôi trổng thuỷ sản, du lịch biển, giao thông vận tải biển

– Thành phố Hải Phòng: khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, du lịch biển – đảo, giao thông vận tải biển.

– Thành phố Đà Nẵng: giao thông vận tải biển, du lịch biển.

– Khánh Hoà, đặc biệt là thành phố Nha Trang: du lịch biển, giao thông vận tải biển, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản.

– Bình Thuận, Cà Mau là những tỉnh có ngành đánh cá biển phát triển mạnh.

– Kiên Giang: đánh cá biển, du lịch biển – đảo.

Câu 1: Tại sao nói: Sự phát triển kinh tế – xã hội các huyện đảo có ý nghĩa chiến lược hết sức to lớn đối vói sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện tại cũng như tương lai.

Lời giải:

– Các huyện đảo là nơi nghề cá và đánh bắt thuỷ sản phát triển, tập trung đông ngư dân, cũng là những căn cứ bảo vệ trật tự, an ninh trên các vùng biển và bờ biển của nước ta.

– Các huyện đảo tạo thành hệ thống tiền tiêu bảo vệ đất liền, hệ thống căn cứ để nước ta tiến ra biển và đại dương khai thác có hiệu quả các nguồn lợi vùng biển, hải đảo và thềm lục địa.

Câu 2: Tại sao việc giữ vững chủ quyền của một hòn đảo, dù nhỏ, lại có ý nghĩa rất lớn?

Lời giải:

– Việc khẳng định chủ quyền của nước ta đối với các đảo và quần đảo có ý nghĩa là cơ sở để khẳng định chủ quyền của nước ta đối với vùng biển và thềm lục địa quanh đảo.

Câu 3: Hãy chọn và phân tích một khía cạnh của việc khai thác tổng hợp các tài nguyên biển mà em cho là tiêu biểu.

Lời giải:

Ví dụ, chọn khía cạnh Phát triển du lịch biển

– Điều kiện phát triển

+ Dọc chiểu dài 3.260km đường bờ biển có khoảng 125 bãi tắm lớn nhỏ, trong đó có nhiều bãi dài tới 15 – 18km. Có nhiều bãi biển đẹp nổi tiếng như Mĩ Khê (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu)…

+ Thuộc vùng biển nước ta có khoảng 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có nhiều đảo gần bờ có giá trị cao về du lịch như: Phú Quốc, Côn Đảo, Cát Bà,…

+ Vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới hấp đẫn khách du lịch trong và ngoài nước.

+ Các điều kiện khác: khí hậu, tài nguyên hải sản, bản sắc văn hoá của cư dân vùng biển,… có nhiều thuận lợi cho du lịch, nghỉ dưỡng.

– Hiện trạng phát triển

+ Các trung tâm du lịch biển đã được nâng cấp, nhiều bãi bỉển mới được đưa vào khai thác.

+ Đáng chú ý là các khu du lịch Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn (ở Quảng Ninh và Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hoá), Cửa Lò (Nghệ An), Nha Trang (Khánh Hoà), Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu)…

Hướng Dẫn Giải Bài Tập Môn Học Kinh Tế Quốc Tế

Hướng dẫn giải bài tập môn học Kinh tế quốc tếBài tập 1. Cho bảng số liệu như sau:

Câu 1. Cơ sở thương mại giữa hai quốc gia là:a. Lợi thế tuyệt đốib. Lợi thế so sánhc. Chi phí cơ hộid. Không có thương mạiTrả lời: Chọn a vì mỗi quốc gia có một lợi thế tuyệt đối hơn quốc gia còn lại.Câu 2. Khung tỷ lệ trao đổi giữa hai quốc gia?Khung tỷ lệ trao đổi nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa 2 sản phẩm để thương mại diễn ra giữa 2 quốc gia. Dựa vàosố liệu đã cho ta có:Thái Lan sẽ xuất khẩu gạo sang Nhật Bản nếu họ có thể đổi 4 gạo lấy nhiều hơn 2 tivi (vì cùng hao phí hết 1giờ lao động). Tương tự, Nhật Bản sẽ xuất khẩu tivi sang Thái Lan nếu họ có thể đổi 4 tivi lấy nhiều hơn 1gạo (hay 16 tivi với 4 gạo). Vậy khung tỷ lệ trao đổi sẽ là:2 tivi < 4 gạo < 16 tivi hoặc 1 tivi < 2 gạo < 8 tivi.Câu 3. Chi phí cơ hội của từng sản phẩm ở hai quốc gia?Thái Lan: Để sản xuất thêm 2 tivi thì phải cắt giảm sản xuất 4 gạo (đều hao phí 1 giờ lao động), vậy chi phícơ hội của tivi là 4/2 hay 2. Tương tự, để sản xuất thêm 4 gạo phải cắt giảm 2 tivi, vậy chi phí cơ hội củagạo ở Thái Lan là 2/4 hay là 1/2.Nhật Bản: Tương tự như trên, chi phí cơ hội của tivi là 1/4, chi phí cơ hội của gạo ở Nhật Bản là 4/1=4.

Câu 1. Xác định yếu tố thâm dụng của từng quốc giaQuốc gia 1:Tỷ lệ (K/L) của sản phẩm B = 3/3 lớn hơn tỷ lệ (K/L) của sản phẩm A =1/2: B là sản phẩm thâm dụng vốn,A là sản phẩm thâm dụng lao độngQuốc gia 2:Tỷ lệ (K/L) của sản phẩm B = 4/2 lớn hơn tỷ lệ (K/L) của sản phẩm A =1/4: có B là sản phẩm thâm dụngvốn, A là sản phẩm thâm dụng lao động.Câu 2. Xác định sản phẩm xuất khẩu của từng quốc gia.