Giải Vbt Ngữ Văn 7 Những Câu Hát Than Thân / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Ictu-hanoi.edu.vn

Giải Vbt Ngữ Văn 7 Những Câu Hát Than Thân

Giải Vbt Ngữ Văn 7 Bài Những Câu Hát Về Tình Yêu Quê Hương, Đất Nước, Con Người

Giải Vbt Ngữ Văn 6 Ẩn Dụ

Giải Vbt Ngữ Văn 8 Ôn Dịch Thuốc Lá

Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Ôn Dịch, Thuốc Lá

Giải Vbt Ngữ Văn 6 Mẹ Hiền Dạy Con

Những câu hát than thân

Câu 1 (Bài tập 1 trang 49 SGK Ngữ Văn 7 Tập 1 – trang 37 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1):

Trả lời:

– Một số bài ca dao dùng hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời, thân phận người nông dân:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

– Người nông dân mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời, thân phận của mình vì:

→ Con cò là loài vật quen thuộc đối với đồng ruộng, với làng quê, với người nông dân.

→ Cò có thân hình mảnh mai, nhỏ bé.

→ Cò thường chăm chỉ đi kiếm ăn, cả ban ngày lẫn ban đêm, cặm cụi mổ những thứ còn rơi vãi ở đồng ruộng hoặc ao hồ.

⇒ Người nông dân liên tưởng đến thân phận nhỏ bé, phải lao động vất vả của mình.

Câu 2 (Bài tập 2 trang 49 SGK Ngữ Văn 7 Tập 1 – trang 38 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1):

Trả lời:

– Cách diễn tả cuộc đời lận đận, vất vả của cò:

→ lận đận một mình: không được sống yên ổn, vui vẻ

→ lên thác xuống ghềnh: phải trải qua nhiều khó khăn thậm chí là hiểm nguy

→ bể đầy, ao cạn: tình cảnh trớ trêu, không có chỗ để mưu sinh, kiếm ăn

⇒ Cuộc đời mưu sinh của cò đầy những trắc trở, vất vả, thử thách.

– Những nội dung khác của bài ca dao:

→ Bài ca dao còn là lời lên án xã hội phong kiến đương thời, chèn ép cuộc sống của người nông dân.

Câu 3 (Bài tập 4 trang 49 SGK Ngữ Văn 7 Tập 1 – trang 38 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1):

Trả lời:

– Những nỗi thương thân:

+ Qua hình ảnh con tằm:

→ kiếm ăn được mấy, phải nằm nhả tơ.

→ cuộc sống vất vả, thiếu thốn, bị bóc lột sức lao động.

+ Qua hình ảnh con kiến:

→ kiếm ăn được mấy, phải đi tìm mồi.

→ cuộc sống của thân phận nhỏ bé, bị áp bức, bóc lột.

+ Qua hình ảnh con hạc:

→ lánh đường mây, bay mỏi cánh biết ngày nào thôi.

→ cuộc sống đầy khó khăn, tương lai vô định, mịt mờ không biết đi đâu về đâu.

+ Qua hình ảnh con cuốc:

→ kêu ra máu, có người nào nghe.

→ thân phận hèn mọn, không được lắng nghe, không được quyền lên tiếng, đầy trái ngang, oan ức.

Câu 4 (Bài luyện tập 1 trang 50 SGK Ngữ Văn 7 Tập 1 – trang 39 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1):

Trả lời:

– Đặc điểm chung về nội dung:

→ Đều là những lời than thân.

→ Gợi lên cuộc sống của những kiếp người, những thân phận nhỏ bé, nghèo khổ, bị áp bức bóc lột, không có quyền được quyết định cuộc sống của chính mình trong xã hội phong kiến xưa.

– Đặc điểm chung về nghệ thuật

→ Đều sử dụng lối ví von bằng ẩn dụ, so sánh.

→ Sử dụng các câu mang tính chất than, hỏi.

→ Giọng điệu buồn, xót xa.

→ Đều sử dụng thể thơ lục bát dân gian.

Trả lời:

Những biện pháp nghệ thuật cùng được sử dụng:

→ Hầu hết các câu ca dao bắt đầu bằng mô típ “thân em”.

→ Sử dụng phép so sánh: So sánh hình ảnh người phụ nữ với những vật nhỏ bé, trôi nổi (hạt mưa sa, cây quế giữa rừng, tấm lụa đào phất phơ giữa chợ) để gợi hình ảnh cuộc sống bấp bênh, vô định.

→ Dùng cú pháp so sánh trực tiếp: thân em như…; em như…

Câu 6 (trang 40 VBT Ngữ Văn 7 Tập 1): Đọc các bài ca dao than thân, ngoài nỗi khổ, em còn hiểu thêm những vẻ đẹp nào của người lao động thời xưa? Chọn phân tích một ví dụ để chứng minh.

Trả lời:

– Vẻ đẹp của người lao động qua một số bài ca dao than thân:

+ Chăm chỉ lao động, cần cù, chịu khó, giàu nghị lực.

+ Nhận thức sâu sắc về cuộc sống, xã hội đương thời.

+ Phẩm chất, đức tính tốt đẹp.

– Bài ca dao em chọn là:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

– Phân tích:

+ Chăm chỉ lao động, cần cù, chịu khó, giàu nghị lực

→ “đi ăn đêm”, “đậu phải cành mềm”, “lộn cổ xuống ao”

→ Hình ảnh con cò lặn lội kiếm ăn trong đêm, gặp phải những trắc trở là biểu tượng cho cuộc sống mưu sinh, lao động nhiều vất vả của người nông dân. Trước những khó khăn ấy, họ vẫn kiên trì chứ không bỏ cuộc.

+ Nhận thức sâu sắc về cuộc sống, xã hội đương thời:

→ ông vớt tôi nao, ông hãy xáo măng

→ Ẩn đằng sau đó là hình ảnh của thân phận bị phụ thuộc vào tay kẻ khác, không thể tự quyết định cuộc sống của bản thân mình.

+ Phẩm chất, đức tính tốt đẹp:

→ xáo nước trong, đừng xáo nước đục

→ Người nông dân xem trọng phẩm giá, tâm hồn của mình, mong muốn gìn giữ tấm lòng trong sạch, tâm hồn lương thiện, dù vất vả, nghèo khó nhưng không nghèo hèn.

Các bài giải vở bài tập Ngữ Văn lớp 7 (VBT Ngữ Văn 7) khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Giải Vbt Ngữ Văn 7 Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình

Giải Vbt Ngữ Văn 7 Bài Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình

Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Kể Chuyện Tưởng Tượng

Giải Vbt Ngữ Văn 6 Bài Thánh Gióng

Soạn Bài Cây Tre Việt Nam

Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân

Giải Vbt Ngữ Văn 7 Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh

Giải Vbt Ngữ Văn 7 Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh

Soạn Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh (Tĩnh Dạ Tứ)

Soạn Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh

✅ Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh

Soạn bài Những câu hát than thân

Câu 1 (Trang 49 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Những bài ca dao sử dụng hình ảnh con cò:

– Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non

– Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống sông

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

→ Người nông dân thời xưa thường mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời, thân phận của mình. Đây là con vật nhỏ bé, hiền lành, chịu khó kiếm ăn

Câu 2 (trang 49 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Cuộc đời lận đận, vất vả, cay đắng của con cò được diễn tả:

+ Thông qua từ láy “lận đận” và thành ngữ “lên thác xuống ghềnh”: diễn tả hết nỗi vất vả, lận đận của con cò

→ Đối lập cái nhỏ bé, yếu ớt với cái dữ dội, bếp bênh, gập ghềnh

+ Câu hỏi tu từ: diễn đạt nỗi oan trái mà cò gặp phải và sự gieo neo, khó nhọc, cay đắng của người lao động xưa

Nội dung của bài ca dao:

+ Than thân: mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời, thân phận của những người lao động cũ

+ Phản kháng: câu hỏi tu từ thể hiện thái độ bất bình với kẻ làm cho người nông dân lận đận, lên thác xuống ghềnh

Câu 3 (trang 49 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Cụm từ “Thương thay”: tiếng than biểu hiện sự đồng cảm, thương xót ở mức độ cao

– Thương thay được lặp lại 4 lần. Ý nghĩa của sự lặp lại đó:

+ Mỗi lần sử dụng là một lần biểu đạt tình thương một con vật, bốn cảnh ngộ khác nhau của thân phận người lao động

+ Sự lặp lại tô đậm niềm thương cảm, thương xót cuộc sống trăm bề khổ cực của người lao động

+ Sự lặp lại kết nối và mở ra những nỗi thương khác nhau, làm cho bài ca phát triển

Câu 4 (trang 49 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Những nỗi thương thân của người lao động thể hiện qua:

+ Thương con tằm là thương cho thân phận bị bòn rút đến cùng kiệt sức lực

+ Thương lũ kiến li ti là thương những thân phận nhỏ bé, suốt đời phải làm lụng và kiếm miếng ăn

+ Thương con hạc: thương cuộc đời phiêu bạt, khốn khó, mỏi mệt không có tương lai

+ Thương con cuốc: thương thân phận thấp cổ bé họng, tiếng than không có người động lòng, thương xót

→ Tiếng than của bốn con vật chính là tiếng than cho thân phận thấp bé, chịu nhiều bất công ngang trái trong cuộc sống

Câu 5 (Trang 49 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Các bài ca dao bắt đầu từ Thân em

– Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân

– Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày

– Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai

→ Những bài ca dao này đều nói về thân phận của người phụ nữ trong xã hội xưa: họ phụ thuộc, không có quyền tự chủ, bị đối xử không công bằng…

Câu 6 (trang 49 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Hình ảnh so sánh đặc biệt ở chỗ:

– Trái bần, tên loại quả đồng âm với từ “bần” (nghèo khó, bần cùng)

– Hình ảnh trái bần trôi nổi, bị gió dập, sóng dồi. Sự vùi dập của gió, của sóng làm cho trái bần lênh đênh

⇒ Thân phận những người phụ nữ lênh đênh, trôi nổi, chịu nhiều sóng gió ngang trái trên đời

Luyện tập

Bài 1 (trang 50 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Những điểm chung về nội dung:

– Nội dung:

+ Than thân, đồng cảm với cuộc đời đau khổ, đắng cay của người lao động

+ Tố cáo, phản kháng xã hội phong kiến

– Nghệ thuật:

+ Đều sử dụng hình thức thơ lục bát

+ Hình ảnh biểu tượng, ẩn dụ, so sánh để diễn tả tâm trạng

Bài giảng: Những câu hát than thân – Cô Trương San (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Giải Vbt Ngữ Văn 7 Những Câu Hát Châm Biếm

Soạn Bài: Từ Láy (Ngắn Nhất)

Giải Bài Tập Môn Sinh Học Lớp 8 Trang 143: Dây Thần Kinh Tủy

Giải Bài Tập Trang 73 Sgk Sinh Lớp 8: Vệ Sinh Hô Hấp

Giải Bài Tập Sbt Tiếng Anh Lớp 11 Chương Trình Mới Unit 9: Cities Of The Future

Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 7 Bài 4: Những Câu Hát Than Thân

Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân Sbt Ngữ Văn 7 Tập 1

✅ Những Câu Hát Than Thân

Soạn Bài Từ Hán Việt

Soạn Bài Từ Hán Việt (Tiếp Theo)

Bài 5: Từ Hán Việt

Giải bài tập Ngữ văn lớp 7 bài 4 SGK

Giải bài tập Ngữ văn bài 4: Những câu hát than thân

Giải bài tập Ngữ văn lớp 7 bài 4: Những câu hát than thân là tài liệu văn lớp 7 được VnDoc sưu tầm giúp các bạn học sinh hoàn thành tốt bài kiểm tra sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo.

Những câu hát than thân I. Kiến thức cơ bản

– Những câu hát than thân có số lượng lớn và rất tiêu biểu trong kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam. Những câu hát đó thường dùng các sự vật, con vật gần gũi bé nhỏ đáng thương làm hình ảnh biểu tượng, ẩn dụ, so sánh để diễn tả tâm trạng, thân phận con người.

– Ngoài ý nghĩa “than thân” đồng cảm với cuộc đời đau khổ, đắng cay của người lao động, những câu hát này có ý nghĩa phản kháng, tố cáo xã hội phong kiến.

II. Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản Câu 1. Trong ca dao, người nông dân thời xưa thường mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời, thân phận của mình. Em hãy sưu tầm một số bài ca dao để chứng minh cho điều đó và giải thích vì sao.

a. Những câu ca dao có hình ảnh con cò:

– Cái cò đi đón cơn mưa Tối tăm mù mịt ai đưa cò về Cò về thăm quán cùng quê Thăm cha, thăm mẹ, cò về thăm anh. – Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non Quả dưa vẹo vọ Соп ốc пằт со Con tôm đánh đáo Con cò kiếm ăn

b. Lí giải:

– Đây là loài chim thường xuất hiện ở đồng ruộng gắn bó gần gũi với người nông dân và làng quê Việt Nam: “Con cò trên ruộng cánh phân vân”, “Con cò bay lả bay la, bay từ cửa Phủ bay ra cánh đồng”.

– Cò là loài chim nhỏ bé, bình thường, nó gợi lên được thân phận nhỏ bé, lam lũ, lận đận, vất vả, đáng thương của người nông dân, đặc biệt là người phụ nữ.

– Giữa người nông dân và con cò có những đặc điểm và phẩm chất tương đồng như: Cần cù, chịu khó lặn lội để kiếm sống suốt cả cuộc đời.

Câu 2. Em hiểu cụm từ: “Thương thay” như thế nào? Hãy chỉ ra sự lặp lại của cụm từ này trong bài.

– Ý nghĩa từ “thương thay”:

“Thương thay” là thương rất nhiều, đến quặn thắt, đây là tình thương của sự đồng cảm chia sẻ giữa những người cùng khổ.

– Ý nghĩa của sự lặp lại cụm từ “thương thay”:

+ “Thương thay” được lặp lại tới 4 lần trong bài ca dao, nằm ở vị trí mở đầu ở mỗi câu lục, mỗi lần lặp lại là một cảnh ngộ, một thân phận được hiện ra.

+ Sự lặp lại đó làm tăng thêm nỗi cực nhọc của những cuộc đời cay đắng và thể hiện sâu sắc hơn, thấm thía hơn nỗi niềm thương cảm.

Câu 3. Hãy phân tích những nỗi thương thân của người lao động qua các hình ảnh ẩn dụ trong bài 2.

– Nhận xét chung: Hình ảnh những con vật nhỏ bé, bèo bọt: “Con tằm”, “lũ kiến”, “chim hạc”, “con cuốc” dùng để ẩn dụ về cuộc đời cơ cực, nhọc nhằn của người lao động.

– Hình ảnh cụ thể:

+ “Con tằm”: Tằm ăn lá dâu, rồi từ ruột nó, người ta lấy ra những sợi tơ vàng làm nên những tấm vải rất đẹp, rất quý, tơ bị rút hết thì mạng sống của tằm cũng chấm dứt ở Hình ảnh con tằm là ẩn dụ về người lao động bị giai cấp thống trị bóc lột, bòn rút sức lao động cạn kiện đến tận gan ruột, đến chết để làm giàu cho chúng.

+ “Lũ kiến”:

– hàm nghĩa chỉ số đông

– “Li ti” rất bé nhỏ, thường bị coi thường, chẳng đáng gì. Bé thế ăn chẳng là bao, thế mà suốt ngày đi kiếm ăn. Đó là hình ảnh ẩn dụ về những người lao động thấp cổ bé họng trong xã hội cũ suốt đời suốt kiếp nai lưng quần quật làm việc, vất vả ngược xuôi mà vẫn không đủ sống, vẫn cứ đói nghèo.

+ “Chim hạc” cánh chim bay mỏi không có nơi đứng ở hình ảnh ẩn dụ nói về cuộc đời phiêu bạt và những cố gắng vô vọng của người lao động trong xã hội cũ.

Câu 4. Em hãy sưu tầm một số bài ca dao mở đầu bằng cụm từ “thân em”. Những bài ca ấy thường nói về ai, về điều gì và thường giống nhau như thế nào về nghệ thuật.

– Những câu ca dao mở đầu bằng cụm từ “Thân em”:

+ Thân em như miếng cau khô Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày. Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày. + Thân em như lá đài bị Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương.

– Đặc điểm, nội dung và nghệ thuật:

+ Những bài ca dao mở đầu bằng cụm từ “thân em” thường nói về thân phận khổ đau, không tự định đoạt được cuộc đời mình của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

+ Những bài ca dao này thường sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh để diễn tả. Câu 5.

Bài 3 nói về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Hình ảnh so sánh này có gì đặc biệt? Qua đây, em thấy cuộc đời người phụ nữ trong xã hội phong kiến như thế nào?

– Nhận xét về hình ảnh so sánh:

+ Trái bần: Vừa chua vừa chát, hơn nữa đã rụng – gợi ta liên tưởng những thân phận nghèo hèn lắm khổ đau – câu ca mang đậm màu sắc Nam Bộ.

+ Gió dập, sóng dồi: Hình ảnh các thế lực đen tối hợp lực vào nhau đè bẹp, nhấn chìm cuộc sống của những con người lương thiện..

Qua bài ca dao ta thấy được người phụ nữ trong xã hội phong kiến có số phận dật dờ, trôi nổi, luôn gặp những khổ đau, bất hạnh.

ngày đi kiếm ăn. Đó là hình ảnh ẩn dụ về những người lao động thấp cổ bé họng trong xã hội cũ suốt đời suốt kiếp nai lưng quần quật làm việc, vất vả ngược xuôi mà vẫn không đủ sống, vẫn cứ đói nghèo.

+ “Chim hạc” cánh chim bay mỏi không có nơi đứng ở hình ảnh ẩn dụ nói về cuộc đời phiêu bạt và những cố gắng vô vọng của người lao động trong xã hội cũ.

III. Hướng dẫn luyện tập Câu 1. Em hãy nêu những đặc điểm chung về nội dung và nghệ thuật của ba bài ca dao.

– Đặc điểm chung về nội dung:

+ Đó còn là lời tố cáo và sự phản kháng đối với xã hội bất công tàn bạo.

– Đặc điểm nghệ thuật:

+ Sử dụng thể thơ lục bát.

+ Sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh và câu hỏi tu từ.

+ Những sự vật đưa ra để so sánh đều nhỏ bé, tội nghiệp, đáng thương và gần gũi với đời sống của người lao động.

Giải Sách Bài Tập Lịch Sử 7 Bài 23: Kinh Tế, Văn Hóa Thế Kỉ Xvi

Soạn Bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam

Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 7

Soạn Bài Viết Bài Tập Làm Văn Số 6

Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Về 6 Câu Thơ Cuối Cảnh Ngày Xuân Của Nguyễn Du

Cảm Nghĩ Về Những Câu Hát Than Thân

Soạn Bài Lớp 7: Thành Ngữ

Soạn Bài Thành Ngữ Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất

Soạn Văn Lớp 7 Bài Thành Ngữ Ngắn Gọn Hay Nhất

Tập Đọc Lớp 5: Đất Nước

Soạn Bài Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm)

Đề bài: Em hãy chọn một số câu hát than thân và phát biểu cảm nghĩ của mình về những câu hát ấy.

*****

– Trong ca dao, bên cạnh những bài thể hiện tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương, đất nước… còn có những bài hát than thân.

– Ngoài nội dung than trách số phận khổ sở, bất hạnh, những câu hát đó còn chứa đựng ý nghĩa phản kháng, tố cáo xã hội phong kiến đầy áp bức, bất công.

+ Câu thứ nhất: Nước non lận đận một mình… cho gầy cò con?

– Hình ảnh con cò mang ý nghĩa tượng trưng thường xuất hiện trong ca dao.

– Người nông dân lam lũ, vất vả… hay mượn hình ảnh con cò để diễn tả về thân phận nhỏ bé, khổ cực của mình.

– Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị hiện lên thấp thoáng sau từng câu, từng chữ, từng hình ảnh. Nội dung câu hát mang ý nghĩa tố cáo hiện thực xã hội rất cao.

+ Câu thứ hai: Thương thay thân phận con tằm… có người nào nghe?

– Là một loạt hình ảnh so sánh giữa thân phận thấp kém của người nông dân với những loài vật bé nhỏ, tầm thường như con tằm, con kiến, con chim…

– Từ cảm thán Thương thay lặp lại ở đầu câu tạo âm hưởng ngậm ngùi, chua xót, mang nỗi sầu thân phận hẩm hiu, bất hạnh.

– Điệp ngữ: kiếm ăn được mấy và từ phải nhấn mạnh ý cuộc sống của người nghèo quá lầm than, cơ cực.

– Hình ảnh chim bay mỏi cánh, cuốc kêu ra máu và các câu hỏi tu từ biết ngày nào thôi? Có người nào nghe? Đặc tả thân phận lênh đênh, đầy tủi hờn, oan ức giữa xã hội phong kiến bất công, ngang trái…

+ Câu thứ ba: Thân em như trái bần trôi…

– Phản ánh số phận lênh đênh khốn khổ của người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ.

– Hình ảnh so sánh: Thân em như trái bần trôi có sức gợi cảm lớn. Cây bần mọc ven sông, rạch, trái rụng trôi theo dòng nước. Giữa hình ảnh trái bần trôi chịu bao gió dập sóng dồi với số phận hoàn toàn phụ thuộc, bị tước mất quyền tự do, quyền làm chủ bản thân của người phụ nữ nghèo có những nét giống nhau.

– Ý nghĩa tố cáo: Xã hội phong kiến với nhiều áp bức, bất công… luôn tìm cách ràng buộc, nhấn chìm vai trò của người phụ nữ.

– Những câu hát than thân giờ đã lùi vào dĩ vãng.

– Cách mạng đã giải phóng con người, đem lại quyền tự do, bình đẳng cho người phụ nữ trong xã hội.

– Đọc những câu hát than thân, chúng ta càng thấm thía nỗi khổ của ông bà, cha mẹ ngày xưa, càng hiểu thêm giá trị cuộc sống tốt đẹp ngày nay.

Các em nếu chưa hiểu rõ và chắc chắn về ý nghĩa của các câu ca dao có thể xem lại nội dung phần soạn bài Những câu hát than thân đã học.

Top 2 bài văn hay trình bày cảm nghĩ về Những câu hát than thân

Bài mẫu 1

Ca dao, dân ca là tấm gương phản ánh đời sống tâm hồn phong phú của nhân dân lao động. Nó không chỉ thể hiện tình cảm gắn bó thiết tha đối với quê hương, đất nước… mà còn là tiếng thở than về số phận bất hạnh và những cảnh ngộ khổ cực, đắng cay.

Những câu hát than thân ngoài ý nghĩa than thân trách phận còn có ý nghĩa phản kháng, tố cáo sự thối nát, bất công của xã hội phong kiến đương thời. Điều đó được thể hiện chân thực và sinh động qua hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ đa dạng, phong phú. Ba câu hát sau đây là những ví dụ tiêu biểu:

1.

Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay. Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?

2.

Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe.

3.

Thân em như trái bần trôi, Gió dập sóng dồi, biết tấp vào đâu?

Cả ba câu hát đều sử dụng thể thơ lục bát cổ truyền với âm hưởng ngậm ngùi, thương cảm, cùng với những hình ảnh so sánh hoặc ẩn dụ thường thấy trong ca dao để diễn tả thân phận bé mọn của lớp người nghèo khổ trong xã hội cũ (con cò, con tằm, con kiến, trái bần… ). Mở đầu mỗi câu thường là những cụm từ như Thương thay… Thân em như… và nội dung ý nghĩa được thể hiện dưới hình thức câu hỏi tu từ.

Trong ca dao xưa, người nông dân thường mượn hình ảnh con cò để diễn tả cuộc đời và thân phận bé mọn của mình, bởi họ tìm thấy những nét tương đồng ở loài chim quen thuộc ấy.

Bức tranh phong cảnh nông thôn Việt Nam không thể thiếu những cánh cò lặn lội kiếm ăn trên cánh đồng, lạch nước. Cò gần gũi bên người nông dân lúc cày bừa, cấy hái vất vả. Cò dang cánh nối đuôi nhau bay về tổ lúc hoàng hôn… Con cò đã trở thành người bạn để người nông dân chia sẻ tâm tình:

Nước non lận đận một mình, Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

Nghệ thuật tương phản tài tình trong câu ca dao trên đã làm nổi bật hình ảnh đáng thương của con cò. Giữa trời nước mênh mông, cò lủi thủi, đơn côi, lầm lũi kiếm ăn. Thân cò vốn đã bé nhỏ lại càng thêm bé nhỏ. Đã vậy mà cò vẫn phải lên thác, xuống ghềnh, đương đầu với bao lỗi éo le, ngang trái. Câu ca dao như một tiếng thở dài não nề, như một lời trách móc, oán than trước nghịch cảnh của cuộc đời.

Nhìn cái dáng lêu đêu, gầy guộc của con cò lặn lội đồng trên, ruộng dưới để mò tép, mò tôm, người nông dân ngậm ngùi liên tưởng tới thân phận mình phải chịu nhiều vất vả, nhọc nhằn và bất bình đặt ra câu hỏi nguyên cớ do đâu:

Ai làm cho bể kia đầy, Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?!

Cò đã cam chịu số kiếp hẩm hiu, thế nhưng nó vẫn không được sống yên ổn trong cảnh bần hàn mà vẫn bị một ai đó, một thế lực nào đó đẩy vào bể đầy, ao cạn trớ trêu. Phải chăng đó chính là giai cấp thống trị trong xã hội cũ luôn muốn dồn người bị trị vào bước đường cùng?

Cao hơn ý nghĩa của một câu hát than thân, bài ca dao trên chứa đựng thái độ phản kháng và tố cáo xã hội đương thời. Hình ảnh con cò ở đây tượng trưng cho thân phận long đong, khốn khổ của người nông dân nghèo vì sưu cao, thuế nặng, vì nạn phu phen, tạp dịch liên miên, vì sự bóc lột đến tận xương tủy của giai cấp thống trị.

Vẫn theo mạch liên tưởng giống như ở bài ca dao thứ nhất, bài ca dao thứ hai là một ẩn dụ so sánh giữa thân phận của người nông dân với những loài vật bé nhỏ, tầm thường như con tằm, con kiến:

Thương thay thân phận con tằm, Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ. Thương thay lũ kiến li ti, Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi. Thương thay hạc lánh đường mây, Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi. Thương thay con cuốc giữa trời, Dầu kêu ra máu có người nào nghe.

Đây là câu hát nói về những số phận vất vả, bất hạnh. Điệp từ Thương thay được lặp lại bốn lần, biểu hiện sự thương cảm, xót xa vô hạn. Thương thay là thương cho thân phận mình và thân phận của những người cùng cảnh ngộ.

” Thương thay thân phận con tằm/ Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ” là thương cho những người lao động nghèo khổ suốt đời bị kẻ khác bòn rút sức lực, công lao. ” Thương thay lũ kiến li ti/ Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi ” là thương cho nỗi khổ chung của những thân phận nhỏ nhoi, suốt đời xuôi ngược vất vả làm lụng mà vẫn cơ cực, nghèo khổ. ” Thương thay hạc lánh đường mây/ Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi” là thương cho những cuộc đời phiêu bạt, lận đận để kiếm sống qua ngày. ” Thương thay con cuốc giữa trời/ Dầu kêu ra máu có người nào nghe” là thương cho những thân phận thấp cổ bé họng, suốt đời ôm khổ đau oan trái, không được ánh sáng công lí soi tỏ.

Bốn câu ca dao là bốn nỗi xót thương. Sự lặp đi lặp lại ấy tô đậm mối cảm thông và xót xa cho những cuộc đời cay đắng nhiều bề của người dân nghèo trong xã hội cũ. Sự lặp lại còn có ý nghĩa kết nối, mở ra những niềm thương xót khác nhau và mỗi lần lặp lại, tình ý của bài ca lại được phát triển và nâng cao thêm.

Trong ca dao, người xưa có thói quen khi nhìn nhận sự vật thường hay liên hệ đến cảnh ngộ của mình, vận vào thân phận mình. Họ đồng cảm với những con vật bé nhỏ, tội nghiệp (con sâu, cái kiến, con cò, con vạc, con hạc giữa trời, con hạc đầu đình, con cuốc kêu sương, con cuốc kêu ra máu,…) bởi nghĩ rằng chúng cũng có số kiếp, thân phận khốn khổ như mình. Những hình ảnh có tính chất ẩn dụ trong các câu hát kết hợp với bút pháp miêu tả chân thực khiến cho những cảnh ngộ thương tâm gây xúc động thấm thía.

Tằm ăn lá dâu, nhả ra tơ để con người lấy tơ dệt thành lụa, lĩnh, gấm, vóc… những mặt hàng may mặc quý giá phục vụ cho tầng lớp thượng lưu giàu có. Đã là kiếp tằm thì chỉ ăn lá dâu, thứ lá tầm thường mọc nơi đồng ruộng, bãi sông. Mà con tằm bé nhỏ kia ăn được là bao? Mượn hình ảnh ấy, người lao động ngụ ý nói đến sự bóc lột quá đáng của giai cấp thống trị đối với họ. Công sức họ bỏ ra quá nhiều mà hưởng thụ dường như chẳng là mấy. Điều ấy dẫn đến kiếp sống nhọc nhằn, nghèo đói kéo dài, tưởng như không thể tìm ra lối thoát.

Câu hát: ” Thương thay hạc lánh đường mây/ Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi” diễn tả sự chia li bất đắc dĩ giữa người đi xa với những người thân yêu, với mảnh đất chôn nhau cắt rốn để tha phương cầu thực, để trốn thuế trốn sưu. Con đường mưu sinh trước mặt quá đỗi gập ghềnh, nguy hiểm. Người gạt nước mắt ra đi, biền biệt bóng chim tăm cá, như hạc lánh đường mây, như chim bay mỏi cánh, biết đến bao giờ được trở lại cố hương, sum vầy cha con, chồng vợ? Kẻ ở nhà đỏ mắt thấp thỏm lo lắng, đợi trông. Trong vô vàn nỗi khổ của kiếp người, có nỗi khổ nào bằng sinh li, tử biệt?

Câu hát cuối: ” Thương thay con cuốc giữa trời/ Dầu kêu ra máu có người nào nghe” ý thơ lấy từ sự tích vua Thục Đế mất nước, hận mà chết rồi biến thành con chim đỗ quyên hay còn gọi là chim cuốc, chim đa đa, cứ hè đến là kêu ra rả đến trào máu họng. Nội dung câu hát này nói đến nỗi khổ sở, oan khuất của kẻ nghèo. Bao nỗi đau đớn do áp bức bất công gây ra cũng đành nuốt cả vào lòng bởi trời thì cao, đất thì dày, có kêu cũng chẳng thấu tới đâu. Khác chi tiếng kêu của con chim cuốc cứ da diết, khắc khoải vang vọng giữa thinh không mà nào có ai để ý.

Cách mở đầu mỗi câu đều bằng từ cảm thán (Thương thay… Thương thay…) tạo ra âm điệu ngậm ngùi, mang đậm nỗi sầu thương thân, trách phận. Khe khẽ ngâm nga, ta sẽ thấy bài ca dao trên giống như một tiếng thở dài hờn tủi và tuyệt vọng.

Bài ca dao thứ ba phản ánh thân phận khốn khổ của người phụ nữ nông thôn trong xã hội cũ. Hình ảnh so sánh trong bài có nét đặc biệt mang tính chất địa phương của một vùng sông nước miền Nam. Tên gọi của trái bần gợi sự liên tưởng đến thân phận người nghèo. Trong ca dao Nam Bộ, hình ảnh trái bần, trái mù u, trái sầu riêng thường gợi đến những cuộc đời đầy đau khổ, đắng cay.

Thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa kia có khác gì trái bần nhỏ bé liên tiếp bị gió dập sóng dồi. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào hoàn cảnh, không có quyền tự mình quyết định cuộc đời. Xã hội phong kiến luôn muốn nhấn chìm họ, phủ nhận vai trò của họ.

Tóm lại, cả bài ca dao trên đều xoay quanh nội dung thân thân trách phận. Cuộc đời của người nông dân nghèo đói xưa là một bể khổ mênh mông không bờ không bến. Hiện thực thì tăm tối, tương lai thì mù mịt, họ chẳng biết đi về đâu. Điều đó chỉ chấm dứt từ khi có ánh sáng Cách mạng của Đảng soi đường dẫn lối, giải phóng nông dân ra khỏi xiềng xích áp bức của giai cấp phong kiến thống trị kéo dài bao thế kỉ.

Ngày nay, cuộc sống buồn đau, cơ cực đã lùi vào dĩ vãng. Tuy vậy, mỗi khi đọc những bài ca dao trên, chúng ta lại càng hiểu, càng thương hơn ông bà, cha mẹ đã phải chịu kiếp đói nghèo trong rơm rạ của một dĩ vãng đen tối đã lùi xa.

Bài mẫu 2

Ca dao chính là phương tiện để con người bộc lộ những suy tư, tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn. Đó không chỉ là tình cảm lãng mạn của tình yêu đôi lứa, sự sâu sắc, nhân văn trong ca dao về tình cảm gia đình mà còn là những nỗi niềm chua xót, đắng cay của con người. Nỗi niềm ấy, sự xót xa ấy được thể hiện sâu sắc qua chùm những bài ca dao viết về đề tài than thân, yêu thương chung thủy của người bình dân trong xã hội xưa.

Ca dao than thân là một hình thức ca dao khá phổ biến, đó là những lời ca than thân trách phận của những con người trong xã hội xưa, mà nhiều hơn cả là những người phụ nữ, bởi họ phải chịu những bất công, đau khổ mà xã hội phong kiến xưa mang lại. Sự rẻ rúng của thân phận những người phụ nữ trở thành một đề tài quen thuộc trong ca dao, họ bị xã hội vùi dập, tước đoạt đi quyền được sống, quyền lựa chọn hạnh phúc cho mình:

“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

Trong xã hội phong kiến xưa có quan niệm, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, người phụ nữ đến tuổi lập gia đình không có quyền lựa chọn người mình yêu, đối tượng làm chồng của mình, mà mọi thứ đều được quyết định bởi cha mẹ. Đối với những người đề cao quan điểm môn đăng hộ đối thì số phận của những người phụ nữ càng trở nên bất định, hạnh phúc như một ván bài hên xui, nếu may mắn tìm được người chồng tốt thì sẽ được hưởng hạnh phúc, còn không may gặp phải người chồng xấu thì họ vẫn phải nhẫn nhục chịu đựng, không có quyền phản kháng.

Bởi vậy mà nhân vật trữ tình trong câu ca dao này đã ví mình như một tấm lụa đào, tức là một món hàng được bày bán ở giữa chợ, không biết người mua là ai, người quân tử hay kẻ tiểu nhân, một số phận đầy bi đát, đáng thương. Ở bài ca dao sau lại là lời tâm sự đầy tha thiết của một người phụ nữ về bản thân mình, đó là người phụ nữ không có nhan sắc nhưng lại là một người có vẻ đẹp tiềm ẩn ở bên trong. Lời ca như một lời thuyết minh, giới thiệu đầy xót xa của người phụ nữ ấy về con người của mình:

“Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

Xã hội xưa thường đề cao hình thức, những người con gái có diện mạo ưa nhìn, đoan trang thường được coi trọng và nhiều người để ý hơn, ngược lại những người phụ nữ không có lợi thế về nhan sắc thì bị rẻ rúng, coi thường. Nhân vật trữ tình đã tự ví mình như củ ấu gai, để nói về diện mạo xù xì, gai góc, không ưa nhìn. Nhưng bên trong củ ấu ấy lại là phần ruột trắng trong, câu ca dao nhấn mạnh đến vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ, đó là vẻ đẹp khó nhận biết, nếu không chân thành thì khó có thể cảm nhận được, đó chính là những người con gái không có lợi thế về diện mạo nhưng lại là những con người thực sự đẹp về tâm hồn.

Người Việt Nam xưa thường mượn những câu ca dao để giãi bày những tình cảm sâu kín, đó chính là những lời than khóc, những tâm sự nặng trĩu của những người phụ nữ trong xã hội xưa, họ khát khao hạnh phúc, khát khao tình yêu nhưng hạnh phúc ấy với họ là một thứ xa xỉ, vận mệnh của họ nằm trong tay của người khác, không có lấy một chút tự chủ nào.

-/-

Soạn Văn Bài Những Câu Hát Than Thân Lớp 7 Bài Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân (Ngắn Gọn)

Soạn Bài : Những Câu Hát Than Thân

Bài Tập Trắc Nghiệm Trang 32 Sbt Sinh Học 9: Trắc Nghiệm Trang 32 Chương Ii Nhiễm Sắc Thể Sbt Sbt Sinh Học 9

Giải Toán 12 Bài 5. Khảo Sát Sự Biến Thiên Và Vẽ Đồ Thị Của Hàm Số

🌟 Home
🌟 Top