Skkn Giải Toán Có Lời Văn Lớp 3 Violet / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 5/2023 # Top View | Ictu-hanoi.edu.vn

Skkn Giải Toán Có Lời Văn Lớp 5

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐề tài

HƯỚNG DẪN HỌC SINH THỰC HIỆN TỐT CÁCH GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN – LỚP 5( Dạng toán : ” Toán chuyển động đều ” )

I /- ĐẶT VẤN ĐỀ :Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn, đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp cho học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực.Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn: Nó phát triển tư duy, trí tuệ, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tính suy luận, tính khoa học toàn diện, chính xác, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo dục tính nhẫn nại, ý chí vượt khó khăn.Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra cho người thầy là làm thế nào để giờ dạy – học toán có hiệu quả cao, học sinh phát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học. Theo tôi, các phương pháp dạy học bao giờ cũng phải xuất phát từ vị trí, mục đích và nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục của bài học môn toán. Nó không phải là cách thức truyền thụ kiến thức, cách giải toán đơn thuần mà là phương tiện tinh vi để tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, độc lập và giáo dục phong cách làm việc một cách khoa học, hiệu quả.Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho hoạt động dạy học trên lớp “nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả”. Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạy học để vừa nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh, để đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nước nói chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng.Trong chương trình môn toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng . Thông qua việc giải toán, học sinh tiểu học thấy được nhiều khái niệm trong toán học như các số, các phép tính, các đại lượng, các yếu tố hình học . . . đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các sự kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm. Qua việc giải toán sẽ rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính của con người mới, có ý thức vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm và độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt được và khắc phục những mặt thiếu sót.Chính vì vậy, tôi chọn đề tài ” Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt cách giải bài toán có lời văn lớp 5 ( Dạng: Toán chuyển động đều ) ” với mong muốn đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học toán và giúp học sinh lớp 5 biết cách giải bài toán có lời văn đạt hiệu quả cao hơn. Nhưng trong thực tế giảng dạy môn Toán – giải bài toán có lời văn, bản thân tôi cũng gặp nhiều khó khăn như sau :

II / – KHÓ KHĂN: Đa số học sinh xem môn toán là môn học khó khăn, dễ chán. Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều : một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán.Từ những khó khăn trên, để giúp học sinh có kĩ năng giải bài toán có lời văn ở lớp 5, với dạng bài toán ” chuyển động đều ” đạt hiệu quả, bản thân tôi đã thực hiện và tổ chức các hoạt động như sau:

III / – GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC:Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp. Việc hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ năng tính vì bài

Skkn Giải Toán Có Lời Văn Ở Lớp 4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VỀ GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4

Họ và tên: Phan Thị Thanh Hà Đơn vị công tác: Trường tiểu học số 2 Quảng Phúc

THÁNG 01 NĂM 2011 11

Phan Thị Thanh Hà

2

Phan Thị Thanh Hà Phần thứ hai

NỘI DUNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC: 1/ Cơ sở lý luận: Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học và số tự nhiên, các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình. Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau: a) Các khái niệm và các quy tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được giảng dạy thông qua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc phục. b) Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống. c) Việc giải toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những cơ sở ban đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan duy vật biện chứng: việc giải toán với những đề tài thích hợp, có thể giới thiệu cho các em những thành tựu trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta và các nước anh em, trong công cuộc bảo vệ hoà bình của nhân dân thế giới, góp phần giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường, phát triển dân số có kế hoạch v.v… Việc giải toán 3

4

5

Phan Thị Thanh Hà II. CÁC PHƯƠNG PHÁP DÙNG ĐỂ DẠY GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN: 1/ Phương pháp trực quan: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 10 tuổi còn mang tính cụ thể , gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức của môn toán lại có tính trừu tượng và khái quát cao. Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ xung vốn hiểu biết, phát triển tư duy trừu tượng và vốn hiểu biết. Ví dụ: khi dạy giải toán ở lớp Bốn, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau dó lập tóm tắt đề bài qua, rồi mới đến bước chọn phép tính. 2/ Phương pháp thực hành luyện tập: Sử dụng phương pháp này để thực hành luyện tập kiến thức, kỹ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp (Chủ yếu ở các tiết luyện tập ). Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: gợi mở – vấn đáp và cả giảng giải – minh hoạ. 3/ Phương pháp gợi mở – vấn đáp: Đây là phương pháp rất cần thiết và thích hợp với học sinh tiểu học, rèn cho học sinh cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh. 4/ Phương pháp giảng giải – minh hoạ: Giáo viên hạn chế dùng phương pháp này. Khi cần giảng giải minh hoạ thì giáo viên nói gọn, rõ và kết hợp với gợi mở – vấn đáp. Giáo viên nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh ( Ví dụ: Bằng hình vẽ, mô hình, vật thật…) để học sinh phối hợp nghe, nhìn và làm. 5/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng:

6

Phan Thị Thanh Hà Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng đã cho ở trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó. Giáo viên phải chọn độ dài các đoạn thẳng một cách thích hợp để học sinh dễ dàng thấy được mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng tạo ra hình ảnh cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ tìm tòi giải toán.

III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI CÁC BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 4 : Muốn phân tích được tình huống, lựa chọn phép tính thích hợp, các em cần nhận thức được: cái gì đã cho, cái gì cần tìm, mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm. Trong bước đầu giải toán, việc nhận thức này, việc lựa chọn phép tính thích hợp đối với các em là một việc khó. Để giúp các em khắc phục khó khăn này, cần dựa vào các hoạt động cụ thể của các em với vật thật, với mô hình, dựa vào hình vẽ , các sơ đồ toán học…. nhằm làm cho các em hiểu khái niệm ” gấp ” với phép nhân, khái niệm ” một phần … ” với phép chia” trong tương quan giữa các mối quan hệ trong bài toán. Trong một bài toán, câu hỏi có một chức năng quan trọng vì việc lựa chọn phép tính thích hợp được quy định không chỉ bởi các dữ kiện mà còn bởi các câu hỏi. Với cùng các dữ kiện như nhau có thể đặt các câu hỏi khác nhau do đó việc lựa chọn phép tính cũng khác nhau, việc thấu hiểu câu hỏi của bài toán là điều kiện căn bản để giải đúng bài toán đó. Nhưng trẻ em ở giai đoạn đầu khi mới giải toán chưa nhận thức được đầy đủ chức năng của câu hỏi trong bài toán. Để rèn luyện cho các em suy luận đúng, cần giúp các em nhận thức được chức năng quan trọng của câu hỏi trong bài toán. Muốn vậy có thể dùng biện pháp: thường xuyên gợi cho các em phân tích đề toán để xác định cái đã cho, cái phải tìm, các dữ kiện của bài toán , câu hỏi của bài toán, 7

Phan Thị Thanh Hà + Xác lập mối quan hệ giữa các điều kiện đã cho với yêu cầu của bài toán phải tìm và tìm được phép tính số học thích hợp. a) Thực hiện cách giải và trình bày lời giải bằng các thao tác: – Thực hiện các phép tính đã xác định ( có thể viết phép tính sau khi viết câu lời giải và thực hiện phép tính) – Viết câu lời giải. – Viết phép tính tương ứng. b) Kiểm tra bài giải: – Kiểm tra số liệu. – Kiểm tra tóm tắt. – Kiểm tra phép tính. – Kiểm tra lời giải. – Kiểm tra kết quả cuối cùng có đúng với yêu cầu bài toán. *Ví dụ một bài cụ thể ở lớp 4 như sau: Bài toán: Một thửa ruộng hình chữ nhật có chu vi bằng chu vi của hình vuông có cạnh 40m. Biết rằng chiều rộng bằng 1/3 chiều dài. Tính diện tích của thửa ruộng đó. a) Tổ chức cho học sinh tìm hiểu nội dung và nhận dạng bài toán: – Đọc bài toán ( Tuỳ theo hình thức lớp học, có thể cho học sinh đọc to, đọc nhỏ, đọc thầm…) để học sinh biết những dữ kiện ban đầu của bài toán. – Thuật ngữ ” chu vi hình chữ nhật bằng chu vi hình vuông” ( chu vi hình vuông cũng chính là chu vi hình chữ nhật) – Nhận dạng bài toán: Bài toán về tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó. * Nắm bắt nội dung bài toán: 10

Phan Thị Thanh Hà + Biết thửa ruộng hình chữ nhật có chi vi bằng thửa ruộng hình vuông cạnh 40m. + Chiều rộng của thửa ruộng bằng 1/3 chiều dài. + Tính diện tích của thửa ruộng đó. b) Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán: Tóm tắt Chu vi HCN = Chu vi HV cạnh 40m Chiều rộng = 1/3 chiều dài Diện tích : ? m2 – Lập kế hoạch giải toán. – Xác định trình tự giải toán theo cách thông thường. + Muốn tính diện thửa ruộng ta làm thế nào? ( Phải biết chiều dài và chiều rộng của thửa ruộng ) + Để tính chiều dài và chiều rộng ta làm thế nào? ( Tính nửa chu vi của thửa ruộng) + Muốn tính nửa chu vi? ( Phải biết chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật ) + Muốn tính chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật ta làm thế nào? ( tính chu vi của thửa ruộng hình vuông vì chu vi của thửa ruộng hình vuông chính là chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật) * Theo hệ thống câu hỏi phân tích trên GV yêu cầu học sinh nối trình tự giải của bài toán + Thiết lập trình tự giải:  Tính chu vi của thửa ruộng hình vuông.  Tính nửa chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật.  Tìm chiều dài của thửa ruộng. 11

Phan Thị Thanh Hà  Tìm chiều rộng của thửa ruộng.  Tìm diện tích của thửa ruộng. + Thực hiện giải và trình bày bài giải: Bài giải Chu vi của thửa ruộng hình vuông là: 40 x 40 = 160 (m) Nửa chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật là: 160 : 2 = 80 (m) Ta có sơ đồ: Chiều dài :

80m

Chiều rộng : Tổng số phần bằng nhau là: 3 + 1 = 4 (phần) Chiều dài của thửa ruộng là: 80 : 4 x 3 = 60 (m) Hiều rộng của thửa ruộng là: 80 – 60 = 20 (m)

Diện tích của thửa ruộng hình chữ nhật là: 60 x 20 = 1200 ( m 2 ) Đáp số: 1200 m 2  Giải xong yêu cầu học sinh kiểm tra lại đáp số và yêu cầu của bài toán xem đã phù hợp chưa, chính xác chưa.  Học sinh có thể giải bài này với cách giải gọn hơn như sau: Đối với các bài toán có lời văn như trên, giáo viên nên khuyến khích học sinh tự nêu ra các giả thiết đã biết, cái cần phải tìm, cách tóm tắt bài toán và tìm đường lối giải. Các phép tính giải chỉ là khâu thứ yếu mang tính kĩ thuật. 12

Phan Thị Thanh Hà IV/ RÈN LUYỆN NĂNG LỰC KHÁI QUÁT, NÂNG DẦN MỨC ĐỘ PHỨC TẠP TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA SỐ ĐÃ CHO (ĐIỀU KIỆN BÀI TOÁN) VÀ SỐ PHẢI TÌM.

– Tổ chức cho học sinh giải toán, nâng dần mức độ phức tạp trong mối quan hệ giữa số đã cho( điều kiện bài toán) và số phải tìm. – Giải bài toán có nhiều cách giải khác nhau. Làm quen với các bài toán thiếu hoặc thừa dữ liệu. – Lập và biến dổi bài toán dưới nhiều hình thức. – Đặt câu hỏi cho bài toán mới chỉ biết số liệu hoặc điều kiện. – Lập bài toán tương tự với bài toán đã giải. – Lập bài toán ngược với bài toán đã giải.Chẳng hạn lập bài toán ngược với ví dụ trên như sau: Một thửa ruộng hình chữ

nhật có diện tích 1 200 m 2 Biết rằng chiều rộng bằng 20 m. Một thửa ruộng hình vuông có chu vi bằng chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật. Tính diện tích thửa ruộng hình vuông. – Lập bài toán theo cách giải cho sẵn. – Giải toán có lời văn ở lớp 4 phần nào đã mang tính trừu tượng so với lứa tuổi, đòi hỏi các em phải biết quan sát, phân tích, so sánh, trình bày đầy đủ từng yêu cầu của từng dạng bài. Do ậy mà người giáo viên không ngừng tìm tòi nghiên cứu để đúc rút kinh nghiệm quý báu nhằm giúp các em thực hiện tốt việc giải toán có lời văn nối riêng và học toán nói chung ở bậc tiểu học. –

13

Phan Thị Thanh Hà V/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Qua một thời gian nghiên cứu đề ra một số biện pháp giải toán có lời văn ở lớp 4 , tôi đã mạnh dạn đề xuất với Ban Giám hiệu tổ chức thực hiện chuyên đề toán, về phương pháp, về cách giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 đã được nâng cao và đạt hiệu quả khá tốt. Do vậy đã được triển khai áp dụng thực hiện ở các lớp trong khối 4. – Kết quả đạt được cụ thể ở lớp 4B cuối năm học 2009 -2010 như sau:

Thời

Tổng số

gian

học

kiểm tra

sinh

Đầu năm

30

Cuối năm

30

Kết quả Giỏi

Khá

TB

Yếu

SL

%

11

36.7

9

30.0

8

26.7

2

6.6

Từ những kết quả đạt được nêu trên, tôi thấy dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4 không những chỉ giúp cho học sinh củng cố vận dụng các kiến thức đã học, mà còn giúp các em phát triển tư duy, sáng tạo trong học toán và biết vận dụng thực thành vào thực tiễn cuộc sống.

Phần thứ ba 14

Phan Thị Thanh Hà KẾT LUẬN Giải toán có lời văn là nội dung khá hấp dẫn đối với người dạy lẫn người học, nó hấp dẫn bởi các yếu tố toán học khô khan được che đậy bởi lời văn và tranh vẽ hấp dẫn, đa dạng, song đây cũng chính là nội dung khó trong chương trình toán tiểu học. Vì vậy giải toán có lời văn ở lớp 4 nói riêng và giải toán ở tiểu học nối chung, yêu cầu người giáo viên phải có sự say mê, nghiên cứu, tìm tòi, nắm vững nội dung từng chương, từng phần ở SGK, sách tham khảo, hiểu cốt lõi từng đơn vị kiến thức, cốt lõi từng đơn vị toán học. Từ đó mới hướng dẫn các em tường tận theo đúng quy trình các bước giải. Muốn các em có kỹ năng giải toán, giáo viên phải hướng dẫn các em cách phân tích bài toán, cách loại bỏ yếu tố bài toán theo lôgic khoa học, cách khai thác các từ khóa, cách nhận dạng để tìm ra cách giải nhanh, giải đúng. Để phát huy tính tích cực chủ động cho học sinh, giáo viên không nên áp dặt mà nên gợi mở để các em tự tìm ra hướng đi cho mình, giáo viên là trọng tài phân định đúng, sai, nhanh, chậm cho các em. Do vậy, việc giảng dạy toán có lời văn một cách hiệu quả giúp các em trở thành những con người linh hoạt, sáng tạo, làm chủ trong mọi lĩnh vực và trong cuộc sống thực tế hàng ngày. Những kết quả mà chúng tôi đã thu được trong quá trình nghiên cứu không phải là cái mới so với kiến thức chung về môn toán ở bậc tiểu học, song lại là cái mới đối với bản thân tôi. Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã phát hiện và rút ra nhiều điều lý thú về nội dung và phương pháp dạy học giải toán có lời văn ở bậc tiểu học. Tôi tự cảm thấy mình được bồi dưỡng thêm lòng kiên trì, nhẫn lại, sự ham muốn, say sưa với việc nghiên cứu. Trong thời gian qua, được sự giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường, đặc biệt là đồng chí phụ trách chuyên môn cùng với sự học 15

Phan Thị Thanh Hà hỏi, tìm tòi của bản thân. Tôi đã rút ra được một vài kinh nghiệm nhỏ để cùng bàn với các đồng nghiệp về cách dậy giải toán có lời văn ở lớp 4. Mong hội đồng khoa học các cấp xem xét, góp ý để đề tài được áp dụng rộng rãi và nâng cao hơn về mặt chất lượng.

Quảng Phúc, ngày 25 tháng 5 năm 2010 Người thực hiện

Phan Thị Thanh Hà

16

17

18

Skkn: Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Lớp 1

Nâng cao chất lượng giảng dạymạch kiến thức “Giải toán có lời văn”Ở lớp Một…..***…..PHẦN MỞ ĐẦU I-Bối cảnh của đề tài: Trong các môn khoa học và kỹ thuật, toán học giữ một vị trí nổi bật. Nó có tác dụng lớn đối với kỹ thuật, với sản xuất và chiến đấu. Nó là một môn thể thao của trí tuệ, giúp chúng ta nhiều trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề, giúp chúng ta rèn luyện trí thông minh sáng tạo. Nó còn giúp chúng ta rèn luyện nhiều đức tính quý báu khác như: Cần cù và nhẫn nại, tự lực cánh sinh, ý chí vượt khó, yêu thích chính xác, ham chuộng chân lý.Để đáp ứng những yêu cầu mà xã hội đặt ra, Giáo dục và đào tạo phải có những cải tiến, điều chỉnh, phải thay đổi về nội dung chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp.Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác , chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. II/ Lý do chọn đề tài: Đối với môn Toán lớp 1, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học. Môn Toán mở đường cho các em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học, giúp các em biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hằng ngày một cách thực tế.Qua thực tế giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy học sinh còn nhiều khiếm khuyết trong giải toán.Đặc biệt là giải toán có lời văn. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, qua thực tế giảng dạy tôi xin mạnh dạn đề xuất một số kinh nghiệm:”Nâng cao chất lượng giảng dạy mạch kiến thức”Giải toán có lời văn”ở lớp Một” III/Phạm vi nghiên cứu: Đối với mạch kiến thức :”Giải toán có lời văn”, là một trong những mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học. Thông qua giải toán có lời văn, các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kỹ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức tổng hợp của các mạch kiến thức toán học, giải toán có lời văn các em sẽ được giải các loại toán về số học, các yếu tố đại số, các yếu tố hình học và đo đại lượng. Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác. Đối với đề tài “Giải toán có lời văn” tôi chỉ giới hạn ở chương trình lớp Một. IV/ Điểm mới trong kết quả nghiên cứu: Được áp dụng rộng rãi trong chương trình thay sách giáo khoa mới hiện nay,giáo viên dễ dàng áp dụng vào các dạng toán có lời văn ở lớp Một.PHẦN NỘI DUNG I – Cơ sở lý luận: Trong các mạch kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một. Bởi vì đối với lớp Một: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn. Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán một cách máy móc nặng về dập khuôn, bắt chước. II/ Thực trạng của vấn đề: 1.Kết quả khảo sát tại lớp 1D trường Tiểu học Phú Xuân (Năm học:2010-2011) Đề bài: (Bài tập 3 SGK Toán 1 trang 155)Lớp 1A trồng được

Skkn Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt Giải Toán Có Lời Văn

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Tiếng việt, môn Toán có vai trò rất quan trọng. Ngôn ngữ toán học, các kiến thức toán học là những điều rất cần thiết cho đời sống, sinh hoạt, lao động và học tập cho các môn học khác, đồng thời cũng là cơ sở để học sinh học tiếp lên những lớp trên. Ở bậc Tiểu học, môn Toán là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọng. Vì vậy để giúp học sinh nắm được hệ thống kiến thức, kỹ năng cơ bản ban đầu về Toán học không phải là điều dễ dàng, đơn giản. Toán học rất đa dạng và phong phú, có nhiều loại bài toán, ở nhiều dạng khác nhau, trong đó bài toán có lời văn luôn giữ vị trí quan trọng. Bản thân là giáo viên Tiểu học trực tiếp đứng lớp, tôi luôn nhận thấy việc dạy: “Giải các bài toán có lời văn” cho học sinh luôn là vấn đề cần được chú trọng quan tâm. Bởi vì không chỉ đối với học sinh khi tiếp cận với dạng Toán này thường gặp khó khăn, mà đây còn là vấn đề trăn trở của giáo viên trong quá trình giảng dạy, để làm sao cho phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất trong công tác giảng dạy ở nhà trường. Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn” với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng dạy và học toán ở trường Tiểu học Hà Tân. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Đề tài này phần nào giúp các em học sinh học tập môn toán tốt hơn nói chung và giải bài toán có lời văn nói riêng. Bổ sung cho các em một số kiến thức, kỹ năng còn thiếu hụt khi gặp các tình huống khác nhau, giúp các em có kiến thức và dễ nhận dạng toán và giải bài toán có lời văn nhanh hơn. III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Đề tài này áp dụng tốt cho học sinh lớp 3 khi gặp các bài toán giải có lời văn. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: – Tham khảo, thu thập tài liệu. – Phân tích tổng kết kinh nghiệm. – Kiểm tra kết quả chất lượng học sinh. – Phương pháp giảng giải, minh họa PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. Môn Toán có mục tiêu cũng như các môn học khác là góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất, các đức tính cần thiết của người lao động trong xã hội hiện đại. Môn Toán ở Tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh hình thành các kiến thức cơ bản, đơn giản, có nhiều ứng dụng vào đời sống về số học, các số thập phân bao gồm: cách đọc, viết so sánh các số tự nhiên, phân số, số thập phận. Từ đó rèn kỹ năng để nắm chắc các kỹ năng thực hành tính nhẩm, tính viết về bốn phép tính các số tự nhiên, các số thập phân, số đo đại lượng; có những hiểu biết ban đầu thiết thực nhất về các đại lượng cơ bản như: độ dài, khối lượng, thời gian, thể tích, diện tích, dung tích, tiền Việt Nam và một số đơn vị đo thông dụng nhất của chúng. Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường, biết ước lượng các số đo đơn giản. Đồng thời biết nhận dạng và phân biệt một số hình thường gặp, biết tính chu vi, diện tích, thể tích của một số hình. Biết cách giải và trình bày bài giải với bài toán có lời văn, nắm chắc thực hiện đúng quy trình bài toán và bước đầu biết giải một bài toán bằng các cách khác nhau. Thông qua các hoạt động học toán để pháp triển đúng mức một số khả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa đồng thời rèn tác phong học tập và làm việc suy nghĩ, có kế hoạch kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý trí vượt khó cẩn thận, kiên trì, tự tin. Như vậy ta có thể khẳng định rằng giải toán có lời văn là một trong những nội dung quan trọng góp phần thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành mục tiêu của môn Toán ở Tiểu học. II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU: 1. Thực trạng sách giáo khoa và nội dung chương trình: Chương trình môn toán lớp 3 là một bộ phận của chương trình môn toán tiểu học và là sự tiếp tục chương trình này kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy học toán ở nước ta thực hiện đổi mới về nội dung cấu trúc để tăng cường thực hành và ứng dụng kiến thức mới, quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh hoạt động học tập tích cực, linh hoạt, sáng tạo theo năng lực của từng học sinh. 2. Thực trạng việc dạy giải toán có lời văn của giáo viên ở trưởng Tiểu học Hà Tân: Trong quá trình dạy học, giáo viên đã nhận thức được sự cần thiết để đổi mới phương pháp dạy học. Việc đổi mới phương pháp dạy học đã được bản thân tôi và các giáo viên trường Tiểu học Hà Tân áp dụng phổ biến rộng rãi vào tất cả các môn học, tiết học. Đặc trưng của phương pháp dạy học mới là lấy học sinh làm nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, còn người giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của học sinh, giúp học sinh huy động tối đa sự hiểu biết và vốn kinh nghiệm của mình một cách tích cực, tự giác để chiếm lĩnh tri thức mới vận dụng các kiến thức đó một cách sáng tạo vào luyện tập thực hành để rèn các kỹ năng mới. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy giáo viên còn gặp nhiều khó khăn và còn một số tồn tại trong việc dạy học toán có lời văn có ảnh hưởng đến chất lượng dạy học đó là: người giáo viên có ít tài liệu tham khảo; do không có nhiều thời gian để nghiên cứu nên chưa hiểu hết dụng ý của SGK (phần bài học được tô màu xanh) bởi thời gian giành nhiều cho việc lên lớp chứ chưa nói đến mở rộng và nâng cao; một số ít giao viên vẫn còn áp dụng cách dạy cũ khả năng ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin, giáo án điện tử vào trong giảng dạy còn hạn chế; một số giáo viên chưa nêu yêu cầu học sinh sáng tạo tìm cách giải, nhiều lúc còn làm thay cho học sinh và có việc sử dụng bộ biểu diễn dạy học toán chưa hiệu quả. 3. Thực trạng việc học giải toán có lời văn của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Hà Tân: Học sinh đa số chỉ nắm (hiểu) cách thực hiện giải toán có lời văn ngay trong tiết học nhưng sau đó thì quên, việc vận dụng kỹ năng thực hành nhất là phương pháp giải toán có lời văn SGK Toán 3 “quy trình” thực hiện giải đề toán có lời văn một cách sáng tạo, linh hoạt hay vận dụng vào thực tế thì còn hạn chế nhiều, các em học sinh thường gặp khó khăn khi giải các bài toán có lời văn. Khi gặp dạng toán này các em thường hay lúng túng khi đặt lời giải, trình bày các danh số thường thiếu hoặc thừa. Hơn nữa các bài toán có lời văn thường không có hình vẽ cụ thể (trừ bài mẫu, ở một số dạng) nên giáo viên khó hướng dẫn trong bước tìm hiểu đề bài. Các em thường chưa đọc kỹ đề bài nên chưa xác định được đề toán cho biết gì, bài toán hỏi gì? Chưa nắm được cái gì mà đề bài cho biết, cái gì đề bài yêu cầu phải đi tìm? Câu trả lời thường vừa thừa vừa thiếu, chưa chính xác và đáp số thường không đúng so với yêu cầu của đề bài, nhiều em còn lúng túng khi thực hiện giải toán có lời văn. Còn một số em hiểu đề toán chưa đúng theo nội dung đề cho. Các “tình huống” trong bài toán có lời văn khi hiểu sai lệch nội dung, yêu cầu của đề toán chưa sâu, từ các tình huống cụ thể chưa tự phát hiện ra mối quan hệ giữa các đại lượng (mối quan hệ toán học mà nội dung đề bài toán đã nêu), từ đó các em chon phép tính giải, lời giải không thích hợp. 4. Kết quả của thực trạng: Năm học 2016 – 2017, tôi được phân công giảng dạy lớp 3A. Ngay từ đầu năm nhà trường đã có kế hoạch khảo sát chất lượng học tập của học sinh. Tôi cũng lên kế hoạch khảo sát về chất lượng chất lượng giải toán có lời văn cho lớp mình, để từ đó có kế hoạch giảng và biện pháp dạy học cho phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh. Đề bài khảo sát như sau: (Thời gian khảo sát 35 phút) Bài 1 (2 điểm): Mẹ hái được 29 bông hoa, chị hái được nhiều hơn mẹ 9 bông hoa. Hỏi chị hái được bao nhiêu bông hoa? Bài 2 (2 điểm): Năm nay ông 65 tuổi, bố kém ông 29 tuổi. Hỏi năm nay bố bao nhiêu tuổi? Bài 3 (3 điểm): Giải bài toán theo tóm tắt sau: 10 nhãn vở Em: ? nhãn vở Anh: Bài 4 (3 điểm): Mua 3 bút chì hết 7500 đồng. Hỏi nếu mua hết 5 bút chì như thế thì hết bao nhiêu tiền? Kết quả khảo sát cho thấy: Tổng số Giải thành thạo Kỹ năng giải chậm Chưa nắm được cách giải 29 7em = 24,2% 11 em = 37,9 % 11 em = 37,9 % Qua kết quả khảo sát học sinh lớp 3A tại trường Tiểu học Hà Tân, những biểu hiện của một số học sinh về mặt kiến thức và kĩ năng còn hạn chế như: 1. Chưa hiểu đề bài toán dẫn đến thực hiện chưa đúng. 2. Tóm tắt bài toán còn hạn chế (chưa biết tóm tắt bài toán theo nhiều cách). 3. Không biết lựa chọn phép tính để giải. 4. Viết lời giải sai (kết cấu câu lời giải, thường chú ý đến danh số không bám sát vào câu hỏi, lời giải dài dòng thiếu chặt chẽ, không tương ứng với phép tính giải). 5. Viết phép tính giải sai trong phần bài giải. 6. Ghi đáp số sai. III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN: 1. Chú trọng khắc sâu kiến thức về giải toán có lời văn cho học sinh: Để không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng sư phạm trong dạy học giải toán có lời văn bản thân tôi luôn học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp thông qua dự giờ, kiến tập, trao đổi kinh nghiệm khi dạy các bài khó. 2. Coi trọng kỹ năng nhận diện các dạng toán có lời văn: – Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán có lời văn, bản thân giáo viên phải nghiên cứu kỹ sách giáo khoa, hiểu nội dung sách giáo khoa đưa ra. – Trong khi dạy “Giải toán có lời văn” giáo viên không làm thay hoặc áp đặt cách giải mà để học sinh tự tìm ra cách giải bài toán. Tôi tập trung chủ yếu và các bước tóm tắt (bằng ngôn ngữ hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng), phân tích và nhận diện dạng bài toán. a. Giúp học sinh nhận diện dạng toán “Nhiều hơn” Ví dụ 1: Bài tập 1 trong SGK trang 12. [1] Đội một trồng được 230 cây, đội hai trồng được nhiều hơn đội một 90 cây. Hỏi đội hai trồng được bao nhiêu cây? Khi dạy dạng toán này học sinh còn hay nhầm phần tóm tắt bài toán và câu lời giải. Vì vậy dạng toán này tôi tiến hành như sau: – Yêu cầu học sinh đọc đề bài toán. – Giáo viên ra lệnh: Giơ bút chì( cả lớp cùng giơ bút chì). Gạch dưới câu hỏi của bài toán. Giáo viên theo dõi đôn đốc các em làm và giúp đỡ học sinh yếu. – Giáo viên gọi một học sinh đọc xem mình đã gạch dưới câu nào để cả lớp nhận xét. – Cho học sinh tóm tắt bài toán bằng ngôn ngữ hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng. – Bài toán thuộc dạng toán nào? * Lưu ý: – Từ “nhiều hơn” ở bài toán được hiểu như “nhiều hơn”, ngoài ra trong các bài toán khác thuộc dạng toán về nhiều hơn thường có các cụm từ như: hơn, dài hơn, rộng hơn.cũng được hiểu như là “nhiều hơn”. – Giải bài toán về nhiều hơn ở đây là làm phép tính cộng. b. Giúp học sinh nhận diện dạng toán “ít hơn” Ví dụ 2: Bài tập 2 trong SGK trang 12. [1] Một cửa hàng buổi sáng bán được 635l xăng, buổi chiều bán kém buổi sáng 128l xăng. Hỏi buổi chiều cửa hàng bán được bao nhiêu lít xăng? (Hướng dẫn tương tự bài tập 1 SGK toán trang 12) * Lưu ý: – Từ “kém” ở bài toán được hiểu như “ít hơn”, ngoài ra trong các bài toán khác thuộc dạng toán về ít hơn thường có các cụm từ như: ít hơn,kém, ngắn hơn, thấp hơn.cũng được hiểu như là “ít hơn”. – Sau khi học xong hai dạng toán này học sinh phải so sánh được mối quan hệ giữ hai bài toán về “nhiều hơn” và bài toán về “ít hơn”. c. Giúp học sinh nhận diện dạng toán “Gấp một số lên nhiều lần” Ví dụ 3: Bài tập 2 trong SGK trang 33. [1] Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số quả cam con hái. Hoi mẹ hái được bao nhiêu quả cam? (Hướng dẫn tương tự bài tập 1 SGK toán trang 12) * Lưu ý: Gấp lên số lần trong bài toán này ta làm phép tính nhân. d. Giúp học sinh nhận diện dạng toán “Giảm đi một số lần” Ví dụ 4: Bài tập 2 trong SGK trang 38. [1] Một cửa hàng buổi sáng bán được 60l dầu, số lít dầu bán được trong buổi chiểu giảm đi 3 lần so với buổi sáng. Hỏi buổi chiều cửa hàng bán được bao nhiêu lít dầu? (Hướng dẫn tương tự bài tập 1 SGK trang 12) * Lưu ý: – Giảm đi một số lần ta làm phép tính chia. – Các bài toán dạng tìm một trong các phần bằng nhau, so sánh số lớn gấp mấy lần số vé e. Giúp học sinh nhận diện dạng toán “Bài toán rút về đơn vị” Ví dụ 5: Bài tập 1 trong SGK trang 129. [1] Có 4500 đồng mua được 5 quả trứng. Hỏi mua 3 quả trứng hết bao nhiê tiền? (Hướng dẫn tương tự bài tập 1 SGK toán trang 12) * Lưu ý: – Bước tìm giá trị của một phần gọi là bước “rút về đơn vị”, thực hiện bằng phép tính chia, đồng thời học sinh cũng phân biệt sự khác nhau và mối liên hệ giữa bài toán giảm đi một số lần và bài toán gấp lên một số lần. [2] – Tập cho học sinh thói quen suy luận để trả lời các câu hỏi. Bài toán cho biết gì? Bài toán bắt ta tìm gì? Sau đó hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng lời (hoặc bằng sơ đồ nếu có thể). Dựa vào tóm tắt trình bày lại bài toán, để giúp học sinh tìm ra mối quan hệ giữa các dự liệu trong bài toán từ đó nhớ lại dạng bài tương tự đã học nhận ra kiến thức cần sử dụng để giải bài toán như: Đây là bài toán thuộc dạng nào đã biết, đã học? Mối giải được bài toán cần làm các phép tính gì? Sau đó trình bày ra nháp rồi mới ghi vào bài làm. Để rèn luyện kỹ năng giải toán có lời trong quá trình giảng dạy tôi tiến hành như sau: – Lập kế hoạch bài học theo hướng đổi mới phương pháp. Khi lập kế hoạch bài học tôi nghiên cứu kỹ nội dung SGK kết hợp với vở bài tập và luôn bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng các môn học để thiết kế bài học. Mặt khác tôi cũng luôn luôn học hỏi và tìm hiểu xem những bài nếu có thể sử dụng giáo án điện tử phù hợp với mục tiêu của bài dạy tôi liền áp dụng để tiết dạy đạt kết quả tốt. – Tổ chức thực hiện kế hoạch bài học có hiệu quả, phát huy hiệu quả các phương tiện, đồ dùng dạy học sẵn có, các phương tiện hiện đại. 3. Tăng cường việc củng cố kiến thức và kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh: Khi đi vào cụ thể từng bài tôi hướng dẫn cho học sinh: Tìm hiểu kỹ đề bài, hiểu cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán. Phân tích đề bài, tìm ra mối liên hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm thông qua việc tóm tắt bài toán. Cách đặt lời giải phải dựa vào các câu hỏi của bài toán để đặt chính xác. Cần chú ý đến các danh số trong từng phéo tính giải. – Tổ chức thực hiện kế hoạch bài học có hiệu quả, phát huy hiệu quả của giờ học tôi tiến hành để giúp học sinh nắm được các bước cần thiết của quá trình giải toán có lời văn đó là: + Bước 1: Tìm hiểu kỹ đề bài và tóm tắt, nhận dạng bài toán.[2] + Bước 2: Lập kế hoạch giải.[2] + Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải.[2] + Bước 4: Kiểm tra lời giải và cách giải.[2] Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán có lời văn, bản thân giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung SGK, hiểu nọi dung sách giáo khoa đưa ra. Trong khi dạy “Giải toán có lời văn” học sinh biết cách giải, không làm thay hoặc áp đặt cách giải mà để học sinh tự tìm ra cách giải bài toán. Tôi tập trung chủ yếu vào các bước tóm tắt bài toán (bằng ngôn ngữ hoặc sơ đồ đoạn thẳng), phân tích và nhận diện dạng toán. Để thiết lập được cách giải và thứ tự các bước giải là quá trình phức tạp và khó khăn đòi hỏi các em phải có khái niệm tư duy, khái niệm tổng hợp phân tích. Để thực hiện được điều đó các em phải tiến hành: – Suy nghĩ xem câu hỏi của bài toán cần biết gì? Phải thực hiện phép tính gì? Từ các dữ liệu đã cho và điều kiện của bài toán có thể biết gì? Từ đó tìm ra hướng đi tích cực để giải quyết bài toán. Đối với giáo viên phải hướng dẫn các em phân tích tổng hợp đẻ loại bỏ các yếu tố thừa. Chú ý đến vấn đề kinh nghiệm giải toán cho học sinh.[3] – Trước hết học sinh phải nhận ra bài toán thuộc dạng toán nào hoặc có thể biễn đổi về dạng toán nào? – Tìm ra các mối quan hệ giữa các yếu tố, đại lượng trong bài toán thiết lập mối quan hệ đó. – Bài toán đã cho có tương tự bài toán nào đã biết cách giải toán hay giải rồi hay chưa? – Đưa bài toán về dạng đơn giản hơn. Sau khi học sinh làm bài xong, giáo viên đưa ra một vài tình huống để học sinh kiểm tra lại bài làm của mình. Các tình huống đưa ra là: Bài làm sai, bài làm đúng, bài làm còn thiếu hoặc thừa lời giải hoặc đáp số. Học sinh tự xác định được đâu là bài làm đúng để từ đó rút ra kinh nghiệm giải toán cho bản thân. Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán bằng 2 phép tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản. Đây là dạng giải toán có lời văn hay gặp ở lớp 3. Với dạng toán này khi hướng dẫn học sinh giáo viên phải hiểu được ở lớp 2 các em mới giải bài toán có một phép tính. Lên lớp 3 các em mới bắt đầu làm quen với bài toán giải bằng 2 phép tính, dựa trên cơ sở cái học sinh đã học, đã biết đó là bài toán có một phép tính để hướng dẫn học sinh giải. Từ cơ sở phân biệt cái đã cho, cái gì là điều kiện, cái gì cần tìm, để tập trung suy nghĩ vào yếu tố cơ bản. Từ đó giúp học sinh bớt được một số câu, chữ làm cho bài toán gọn lại. Nhờ đó mà quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm hiện ra rõ hơn. Đại đa số các bài toán có lời văn ở lớp 3 đều có thể tóm tắt bằng sơ đồ, hoặc minh họa trên trục số.[3] Có nhiều cách tóm tắt một bài toán. Càng biết nhiều cách càng giải toán giỏi. Ví dụ: Bài 2 trong SGK trang 128. [1] Tóm tắt bài toán bằng lời như sau: Có 7 bao: 28 kg gạo 5 bao như vậy: kg? * Cách tóm tắt bằng sơ đồ: – Bài toán: Lan có 5 cái kẹo, Bình có số kẹo gấp Lan