Văn Bản Đề Nghị Lời Giải Hay / Top 13 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 5/2023 # Top View | Ictu-hanoi.edu.vn

Soạn Bài Văn Bản Đề Nghị

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Phần I ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN BẢN ĐỀ NGHỊ

Câu 1. Đọc các văn bản (trang 124 SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Câu 2. Trả lời câu hỏi:

a. Viết giấy đề nghị để nói lên ý kiến, nhu cầu, quyền lợi chính đáng nào đó để những người có thẩm quyền giải quyết.

b. Giấy đề nghị cần chú ý những yêu cầu về nội dung và hình thức trình bày:

– Trình bày cần sang trọng, ngắn gọn và sáng sủa theo một số mục quy định sẵn.

– Nội dung không nhất thiết phải trình bày đầy đủ tất cả nhưng cần chú ý các mục sau: Ai đề nghị? Đề nghị ai? Đề nghị điều gì?

c. Ví dụ về viết giấy đề nghị: Xin đi tham quan, xin mua thêm quạt…

Câu 3. Tình huống phải viết giấy đề nghị:

Tình huống a và c cần viết giấy đề nghị.

Phần II CÁCH LÀM VĂN BẢN ĐỀ NGHỊ 1. Tìm hiểu cách làm văn bản đề nghị Trả lời câu hỏi (trang 125 SGK Ngữ văn 7 tập 2)

a. Hai văn bản được trình bày theo thứ tự:

– Quốc hiệu

– Địa điểm viết đơn, ngày…tháng…năm.

– Tên văn bản

– Nơi gửi đến

– Nêu sự việc, lí do, ý kiến đề nghị

– Người viết kí, ghi rõ họ tên.

* Những phần quan trọng:

– Chủ thể: Người viết đề nghị

– Khách thể: Người tiếp nhận đề nghị

– Nội dung: Đề đạt nguyện vọng gì?

– Mục đích.

b. Cách làm một văn bản đề nghị:

Ai đề nghị? Đề nghị ai? Đề nghị điều gì? Nguyện vọng được giải quyết sẽ mang lại ích lợi gì?

2. Dàn mục một văn bản đề nghị (sgk-tr. 126).

Phần III LUYỆN TẬP Trả lời câu 1 (trang 127 SGK Ngữ văn 7 tập 2)

Đọc và suy nghĩ về 2 tình huống sau:

Giống nhau: lí do viết đơn và lí do viết đơn đề nghị đều là những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng.

Khác nhau:

+, Viết đơn: là nguyện vọng, nhu cầu của 1 cá nhân.

+, Viết đơn đề nghị: là nguyện vọng, nhu cầu của tập thể.

chúng tôi

Bài Văn Nghị Luận Hay Lớp 7

– Người đăng bài viết: nguyễn thị linh – Chuyên mục : Đã xem: 32918

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc những bài văn nghị luận hay lớp 7. Mời bạn đọc tham khảo.

BÀI VĂN NGHỊ LUẬN HAY LỚP 7

“Rừng đang kêu cứu!” “Hãy bảo vệ lá phổi xanh của con người!”… Hàng trăm tít báo! Hàng ngàn lời kêu gọi! Đó là tất cả những gì mang chúng ta đang đối diện khi môi trường tuyệt vọng kêu cứu. Xã hội phát triên, nhịp sống công nghiệp hiện đại đưa con người tiến cao hơn trong mọi lĩnh vực. Nhưng song song với nó là sự ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sống. Hậu quả tất yếu của “thế kỉ công nghiệp” là hàng ngàn hécta rừng đang bị hủy diệt, tầng ôzôn ngày một lâm nguy. Tại sao con người nhẫn tâm hủy hoại sừng? Tại sao quá ít người nhận thức được sự quan trọng của lá phổi xanh, sự nghiêm trọng tàn khốc nếu vẫn tiếp tục tàn phá rừng?

Rừng ở đây được hiểu là một quần thể cây cối sinh sống, nảy nở trên một vùng đất rộng lớn, cao hơn so với đồng bằng. Cỏ cây, hoa lá, động vật hoang dã… đều là các yếu tố hình thành nên rừng. Rừng được chia làm hai loại : rừng nguyên sinh và rừng nhân tạo. Rừng nguyên sinh là do thiên nhiên tạo ra còn rừng nhân tạo là rừng được hình thành nên bởi con người

Như ta đã biết, cây xanh khi quang hợp sẽ tiếp nhận khí CO2 và thải ra khí O2. Hơn nữa rừng có màu xanh để điều hòa khí hậu, lọc các khí độc hại, đảm bảo sức khỏa con người không bị suy giảm. Bởi vật mới có câu nói “Rừng là lá phổi xanh của con người”. Nhờ cây xanh mà bầu không khí trở nên trong lành, giảm thiểu những tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, rừng phòng hộ cung cấp gỗ cho nhà máy sản xuất đồ nội thất, làm giấy,… Không những thế rừng đầu nguồn còn ngăn nước tránh luc lụt. Chưa hết, Rừng còn là nơi cư trú của nhiều loại động vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng: sóc bây, rùa vàng, trâu rừng, …

Tuy nhiên, dù vai trò quan trọng của rừng đến đâu thì nạn khai thác rừng vẫn diễn ra từng ngày. Chỉ vì cái lợi trước mắt, họ bỏ qua những lợi ích lâu dài mà rừng đem lại. Rừng đầu nguồn bị chặt phá làm cho lũ lụt xảy ra triền miên, làm xói mòn đất đai, nhiều người mất của cải và thậm chí là thiệt mạng. Nhiều cây quý hiếm trong rừng bị chặt phá khiến cho nhiều loài động vật bị mất đi nơi trú ngụ của mình. Nạn đốt rừng làm nương rẫy cũng làm cho diện tích rừng suy giảm nghiêm trọng. Thực trạng thiên tai hằng năm diễn ra ở nước ta rất nhiều như bão lũ, sạt lở đất, cát lấn. Nếu không có hệ thống rừng phòng hộ, rừng ngập mặn được chăm sóc hằng năm thì liệu rằng con số thiệt hại do thiên tai mang đến không dừng lại ở mức đã thống kê. Nhờ có rừng mà ngăn chặn được dòng nước lũ, ngăn chặn cát xâm chiếm đồng bằng. Có thể nói rừng chính là bùa hộ mệnh, giúp cho đời sống con người luôn được bình an. Còn chưa kể đến những người kiểm lâm thông đồng với lâm tặc chặt phá rừng bừa bãi để lấy lợi cho bản thân.

Theo số liệu ban đầu, diện tích rừng trên thế giới là 31% diện tích bề mặt Trái Đất, những mỗi năm diên tích dừng bị giảm 120000-150000km2 cứ đà nay không bao lâu nữa Trái Đất sẽ không còn rừng .Các bạn cứ thử tưởng tượng 1 ngày nào đó mà rừng không còn thì chuyện gì sẽ xảy ra? Môi trường bị phá hoại nghiêm trọng bởi khói bụi của các nhà máy, và phương tiện giao thông. Cảnh quan thiên nhiên bị ảnh hưởng nghiêm trọng, không có gỗ phục vụ cho nhu cầu của con người. Không còn những khu du lịch sinh thái, giải chí. Không những thế, Trái đất đang ngày càng nóng lên, băng ở 2 cực tan ra làm cho mực nước biển dâng cao, đe dọa cuộc sống của người dân ở vùng thấp. Cảnh quan thiên nhiên bị ảnh hưởng. Nghiêm trọng hơn là con người không có khí Ô2 để hô hấp.

Để bảo vệ rừng, chúng ta cần có những hành động thiết thực ngay từ bây giờ. Cần tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng. Những vùng thường hay xảy ra thiên tai, bão lũ cần trồng rừng đầu nguồn. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần tích cực trồng cây phủ xanh đồi trọc. Đối với nạn phá rừng, Nhà nước cần có những chính sách chặt chẽ cũng như biện pháp xử lí nghiêm minh nhằm răn đe mọi người.

Như vậy, bảo vệ rừng, xây dựng và phát rừng hiện nay đang là một bài toán cấp bách cho các cơ quan chức năng cũng như của người dân đang rất nan giải. Rừng có một vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người. Vì vậy, mỗi con người chúng ta hãy góp một chút ít sức lực của mình để bảo vệ rừng, cũng như là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Soạn Bài Đề Văn Nghị Luận Và Việc Lập Dàn Ý Cho Bài Văn Nghị Luận

Tìm hiểu đề văn nghị luận

a) Nội dung và tính chất của đề văn nghị luận

Đọc các đề văn sau và trả lời câu hỏi:

(1) Lối sống giản dị của Bác Hồ.

(2) Tiếng Việt giàu đẹp.

(3) Thuốc đắng giã tật.

(4) Thất bại là mẹ thành công.

(5) Không thể sống thiếu tình bạn.

(6) Hãy biết quý thời gian.

(7) Chớ nên tự phụ.

(8) Không thầy đố mày làm nên và Học thầy không tày học bạn có mâu thuẫn với nhau không?

(9) Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

(10) Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau nên chăng?

(11) Thật thà là cha dại phải chăng?

b. Có thể khẳng định những đề bài trên là những đề văn nghị luận vì đề bài của văn nghị luận nêu ra một vấn đề chính và sau đó người viết dùng những lý lẽ, dẫn chứng để chứng minh luận điểm đó. Hơn hết là đưa được ra những quan điểm cá nhân, ý kiến của riêng mình để thuyết phục được người đọc, người nghe về vấn đề được đề cập.

b. Trước khi bước vào viết một bài nghị luận chúng ta cần xác định được những ý cơ bản, vấn đề cần nghị luận là gì? Có hình dung và đánh giá của cá nhân về vấn đề đó như thế nào. Xác định được tính chất nghị luận để có hướng đi đúng và cách giải quyết vấn đề thuyết phục nhất.

II. Lập ý cho bài văn nghị luận

Xác lập luận điểm

– Đề bài cũng như là luận điểm chính của bài là: chớ nên tự phụ

Tìm luận cứ

– Tự phụ là gì? (tự phụ là thái độ đề cao quá mức bản thân, tự cao tự đại đến mức xem thường người khác)

– Tác hại của tự phụ:

+ Thất bại trong công việc, học tập

+ Tách biệt mọi người xung quanh, bị mọi người xa lánh.

Xây dựng lập luận

– Khái niệm, định nghĩa về tính tự phụ.

– Tác hại của tự phụ

– Đề cao những lối sống tích cực trái ngược với tự phụ như: hòa đồng, khiêm tốn

– Phê phán tính tự phụ.

Theo chúng tôi

Giáo Án Văn 9 Bài Nghị Luận Trong Văn Bản Tự Sự

2. Kĩ năng 3. Thái độ 1. Giáo viên 2. Học sinh 1. Ổn định tổ chức

* Kiểm diện: Sĩ số

9A:

9C:

2. Kiểm tra 3. Bài mới

Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt

HĐ1. HDHS tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự:

I. Yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự.

1. Bài tập: Tìm yếu tố nghị luận :

– Gọi hs đọc bài tập

H: Nhắc lại khái niệm nghị luận

– Nhắc lại: Nghị luận là nêu dẫn chứng , lí lẽ, dẫn chứng để bảo vệ một quan điểm tư tưởng nào đó.

H: Hãy tìm yếu tố nghị luận có trong hai đoạn trích a và b?

– Đây là những suy nghĩ nội tâm của nhân vật ông giáo, ông đã đối thoại với chính mình để thuyết phục bản thân: vợ mình k ác nên ông chỉ buồn mà không nỡ giận.

H: Vấn đề ông giáo nêu ra là gì? phát triển vấn đề ra sao? bằng những lí lẽ nào?

H: Ông giáo đã đưa ra luận điểm và lập luận như thế nào?

H: Các câu văn trên thuộc kiểu câu gì Chr ra kiểu câu đc sử dụng trong đoạn trích ?

H: Đây có phải là cuộc đối thoại không? Em hình dung cảnh này thường xuất hiện ở đâu?

Ai là quan toà ? Ai là bị cáo?

* Nêu vấn đề: (câu 1) Nếu ta không cố tìm…với họ.

* Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải người ác , nhưng thị khổ quá rồi.(vì sao vậy?)

– Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau(quy luật tự nhiên)

– Khi khổ quá thì không nghĩ đến ai được

– Bản tính tốt nhưng bị những buồn đau , lo lắng che lấp mất

* Kết thúc vấn đề:Tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận

+ Hình thức: Đoạn văn chứa nhiều câu , từ mang tính chất nghị luận : Nếu…thì, Vì…nên, Khi(A)…thì (B)

– Câu văn: sử dụng câu ghép có 2 vế có cặp từ hô ứng.Các câu khẳng định ngắn gọn, khúc triết như diễn đạt các chân lí.

⇒ Các đặc điểm, ndung, hình thức, cách lập luận đều rất phù hợp với tính cách nhân vật ông giáo : 1 người có học thức , hiểu biết, giàu lòng thương người luôn suy nghĩ , trăn trở, dằn vặt về cách sống, cách nhìn đời nhìn người

H: Hoạn Thư đã biện minh cho mình bằng những luận điểm nào?

b) Đoạn trích (b) là 1 phiên toà có bị cáo và người buộc tội diễn ra dưới hình thức nghị luận phù hợp với 1 phiên toà . Mỗi bên đều có lí lẽ và cách lập luận của mình

– Kiều ở 4 câu đầu: sau câu chào mỉa mai là lời đay nghiến”càng cay nghiệt càng chuốc lấy oan trái” (khẳng định: càng…càng)

– Hoạn Thư (lập luận ở 8 câu tiếp) với 4 luận điểm:

+ Tôi là đàn bà ghen tuông là chuyện thường tình

⇒ Với cách lập luận trên Kiều phải công nhận tài của Hoạn Thư là”khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”

4. Củng cố – luyện tập

Hệ thống bài:

– Cách sử dụng

– Soạn “Đoàn thuyền đánh cá